TẠI SAO NHÂN HỌC THÚ VỊ


Nhân học luôn mang đến những câu chuyện thú vị về đời sống văn hóa của các tộc người trên thế giới, từ tựa đề đặt ra hay câu chuyện làm rõ những thân phận con người trong các nền văn hóa khác nhau.

Điều này được nhân học văn hóa làm rất tốt trong những năm gần đây.

Ở Việt Nam trước đây, các nghiên cứu thường là dân tộc học, ngành học nằm trong Khoa Lịch sử, và nay tách trở thành một chuyên ngành độc lập gọi là nhân học. Nhiều nghiên cứu của dân tộc học – nhân học văn hóa về các tộc người ở Việt Nam rất nổi bật, đặc biệt là các dân tộc học, nhân học Pháp.

Nhà nghiên cứu Việt Nam đầu tiên nghiên cứu về dân tộc học, khởi đầu về các công trình dân tộc học – nhân học là nhà dân tộc Từ Chi, với nghiên cứu về “cạp váy Mường – “Cạp váy – nó chính là nơi duy nhất người Mường chọn để làm nghệ thuật tạo hình. Lý giải của dân tộc học – nhân học thú vị ở chổ, chính là nói đến thế giới quan cuả người Mường khác hẵn các kiến giải khoa học thuần tuý, qua mô tả dân tộc học như sau: Họ không khắc lên gỗ, lên đá, lên đồ gốm, lên kim loại, không tạc tượng gỗ, tượng đá, không nặn tượng đất, không đúc tượng đồng mà họ dệt cái quan niệm thẩm mỹ của mình lên cạp váy phụ nữ – Cạp váy là bộ phận khăng khít của nữ phục Mường. Người Mường gọi nó là “Klốôc wặt” (trốc váy, đầu váy) – Cạp váy không chỉ là một bộ phận trang phục. Nó còn chiếm một vị trí quan trọng bậc nhất trong nghệ thuật trang trí cổ truyền của dân tộc Mường “. Ông trở thành một hiện tượng nghiên cứu về các dân tộc bản địa ở Việt Nam và còn là người chịu ảnh hưởng của nền tảng dân tộc học Pháp như: Jeanne Cuisinier, nữ tác giả viết cuốn sách “Người Mường, địa dư nhân văn & xã hội học – Les Muong géographie humanize et sociologic, Paris 1948” và cả Georges Condominas khi sang Pháp nói chuyện.

Với Georges Condominas, một người khổng lồ nhân học gắn liền với địa bàn nghiên cứu ở Tây nguyên, với người Mnông Gar, với làng Sar Luk, và cả núi rừng Đông Nam Á. Tây Nguyên, với Đắk Lắk là nơi mà Georges Condominas từng bận chiếc khố của người dân tộc thực hiện nghiên cứu công trình nhân học qua bộ sách nổi tiếng “Nous avons mange la foret de la pierre – genie Goo – Chúng tôi ăn rừng Đá – thần Goo, 1957”, các tác phẩm “Chúng tôi ăn rừng” (link tải sách:https://archive.org/details/chung-toi-an-rung), “Không gian xã hội vùng Ðông Nam Á”, “Biên niên của Sar Luk”, “Làng Mnông Gar” trở thành những cuốn sách đầy thú vị về Tây Nguyên. Hai tác phẩm “Xa lạ là chuyện thường ngày”, “Sar Luk – miền Trung Việt Nam” được xem là hai cuốn sách làm khuấy động ngành dân tộc học thế giới.

Khác với cách xác định không gian xã hội tộc người như Condominas, nhà nhân học Jacques Dourne (còn được gọi nhà nhân học chân trần) với các cuốn sách “Potao – Một Lý Thuyết Về Quyền Lực Ở Người Jorai Đông Dương”, “Rừng, Đàn Bà, Điên Loạn”, “Miền Đất Huyền Ảo”, “Xứ Jorai”. Đặc biệt “Xứ Jörai” của Jacques Dournes với hình ảnh một bé gái có đôi mắt hút hồn người, cùng nước ảnh tối bao trùm tôn nét đẹp khỏe khoắn, đã mang đến cho người xe, có cơ hội khám phá về nét đẹp của nền văn hoá Tây Nguyên – Champa đặc sắc nhưng đang ngày càng phai nhạt và trở nên xa lạ đối với người Kinh. Văn hoá của người bản địa Tây Nguyên gắn liền với rừng, với không gian xã hội được định hình không phải là các đường biên, mốc địa giới mà dòng suối, cái cây, là vòng đời khai thác các mảnh đất, là con của Giàng, của tự do trên miền “hoảng tưởng” của rừng. Đặc biệt qua những nghiên cứu của ông sẽ làm rõ hơn các vấn đề quan hệ giữa người Jörai và Chămpa, cuộc di cư của người Chămpa, văn bia, di tích của người Jörai, hay về Nhà Dài, ông Ba Bị….

Trước cả hai nhà nhân học trên, đặt chân đến Tây Nguyên và có những khám phá thú vị là nhà dân tộc học, Henri Maitre – được xem là một nhà thực dân, một kẻ xâm lược, nhưng lại là một nhà khoa học, nhà văn và là một nghệ sĩ nữa. Ông chuẩn bị một cách có ý thức quyết liệt cho công cuộc chinh phục Tây Nguyên, đồng thời cũng thiết tha yêu mến nó, bằng một tình yêu đầy khát vọng và cũng đầy mâu thuẫn. Henri Maitre viết “Rừng người Thượng” (tên nguyên văn là Les Jungles mois, Rú Mọi)[link tải sách:https://mega.nz/folder/IuwzjCgY#BiNPARBXzThKD9KAch5Akg%5D, cho đến tận ngày nay vẫn còn là công trình nghiên cứu mô tả Tây Nguyên cơ bản, toàn diện, đáng tin cậy nhất, chưa ai vượt qua được, và cả những dự phóng của tác giả vẫn còn giá trị. Mặc tất cả những thiên lệch không thể tránh của một con mắt thực dân, ông vẫn thực sự là nhà Tây Nguyên học đầu tiên và là một trong những tác giả quan trọng nhất của ngành nghiên cứu hẳn còn phải lâu dài này. Cuốn sách này đứng ở hàng đầu những cuốn sách mà bất cứ một người nào quan tâm đến Tây Nguyên, dù ở phương diện nào, dù đắt nhất, thì không thể bỏ qua (Nguyên Ngọc).

Nhà nghiên cứu dân tộc học Anne de Hauteclocque thì đã nghiên cứu và viết tác phẩm Người Ê Đê: Một xã hội mẫu quyền thực (1962) về thiết chế xã hội của người Ê Đê, đặc biệt nhấn mạnh vào lý giải sự ràng buộc giữa các thành phần dân cư trong một xã hội “mẫu quyền”. Công trình của bà gây dấu ấn tiêu biểu ở khía cạnh thực địa, điều tra và thống kê, cũng như tham khảo kỹ lưỡng các hồ sơ luật tục, để từ các dẫn liệu thực tế tái dựng lại mô hình thiết chế sự hình thành các mối quan hệ nội tại thuộc xã hội mẫu quyền của người Ê Đê ở Đắc Lắc.

….Tây Nguyên vẫn là mỏ vàng cho Nhân học văn hóa đào xới…

Nghiên cứu về Tây Nguyên không thể không đọc những tác phẩm này

Tóm lại đó chính là sự thú vị của nhân học văn hóa, không những nghiên cứu về xã hội xưa, mà còn tiếp cận nghiên cứu các vấn đề mang tính đương đại. Nhân học văn hóa còn tập trung nghiên cứu văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự thay đổi văn hoá đương đại cần được nghiên cứu nhiều hơn.

Nhân học đương đại đã tập trung nghiên cứu những hệ quả xã hội của quá trình toàn cầu hóa văn hóa, nhấn mạnh đến sự biến đổi văn hóa, chiếm đoạt văn hoá và các vấn đề xã hội nảy sinh trên thế giới, như sự bá quyền.v.v. Thế giới của thế kỷ 20 đã đối mặt với nhiều thách thức từ con người mà bản thân nó không dừng lại ở đó mà kéo sang thế kỷ 21, đó chính là các vấn đề văn hoá – xã hội đương đại, như internet, mạng xã hội và sự biến đổi xã hội.

Nhân học văn hóa quan tâm đến các vấn đề đương đại, gây tranh luận như hôn nhân đồng tính, toàn cầu hóa văn hóa và kinh tế, gia tăng dân số, nạn đói và sự tồn tại của các nền văn hóa bản địa, sự thành công trong nền kinh tế toàn cầu, sự đa dạng của nhân loại và đặc biệt là quá trình so sánh, dung nạp sự khác biệt của các nền văn hóa, trở thành những mối bận tâm của nhân học trong thế kỷ 21.

Muốn bổ sung cách tiếp cận mới, phương pháp và những kiến thức mới thì không thể bỏ qua cuốn sách dưới đây…

Kiến thức sâu rộng của mình khiến nhân học trở thành một ngành học mang đầy tính hấp dẫn gần đây, không chỉ bổ sung cho kiến thức cho người nghiên cứu mà còn vận dụng tốt vào nghiên cứu văn hóa Việt Nam thì hết sức cần thiết.

Một cuốn sách giáo khoa quan trọng cho ngành Nhân học văn hóa

Nhân được chú ý đến suốt những năm cuối thế kỷ 20 và cả trong thế kỷ 21, không phải vô cơ mà bởi Nhân học mang đến nhiều sự thú vị đó thôi.

Posted in Nhân học, Uncategorized | Leave a comment

KHO TƯ LIỆU MIỄN PHÍ – KHÔNG TRUY CẬP LÀ DO CÁ NHÂN, ĐỪNG ĐỔ LỔI HOÀN CẢNH


Nghiên cứu (NCKH) trở thành một tiêu chí khủng khiếp cho tất cả các nhà nghiên cứu khi đảm bảo có bài tạp chí ISP, Scopus trên thế giới chứ không riêng gì ở Việt Nam. Quốc tế còn áp lực nên Việt Nam chẳng là ngoại lệ, có khác NCKH ở Việt Nam thật phải cam đảm, chưa kể 1 bài báo ISI 2 lượng vàng (báo Người lao động, ngày 1.8.2019). Nhìn những người anh, người em, người bạn đăng ISI gần đây thật khâm phục họ, bởi chất lượng của các tạp chí họ đăng (Q.1) thì tuyệt vời rồi.

Điểm chung, ngoại ngữ cực siêu, văn phong khoa học logic và kết hợp các nghiên cứu khác vào nghiên cứu của mình nhuần nhuyễn, không vi phạm qui tắc trích dẫn. Nói chung, câu hỏi đặt ra, tại sao họ viết được như vậy, đó là câu hỏi cứ hỏi đi hỏi lại, chẳng có điểm kết.

Thôi để câu chuyện này nói sau một cách cụ thể hơn và cả sự cam đảm như thế nào… giờ nói chuyện về tư liệu nghiên cứu khoa học.

Bài đang ISI quá ư là ngon và tất nhiên các tạp chí sử dụng các bài viết này theo các qui tắc riêng của họ, người đọc tham khảo thì phải trả tiền. mà trả tiền trở thành một rào cản khó khăn cho người tiếp cận nhằm cập nhật kiến thức giảng dạy cho sinh viên đây? Lợi nhuận – phi lợi nhuận – đạo đức – vi phạm đạo đức cứ là vòng tròn không có điểm ra.

Rồi cũng có cách kiếm tư liệu bởi gần 50 triệu bài, sách nghiên cứu khoa học phát miễn phí trên internet do Ms. Alexandra Elbakyan đưa lên. Ms. Elbakyan trở thành kẻ đang ghét của các tạp chí, nhà xuất bản nhưng là người hùng, một Robin Hood trong mắt những người nghiên cứu ít tiền, nhờ cô mà họ tiếp cận được kho dữ liệu khổng lồ của thế giới. Tư liệu từ thời thuở nào đến những tài liệu mới nhất của thế kỷ 21 đều có mặt. Vậy bài báo là sở hữu của tác giả hay tạp chí, chẳng là của ai? thôi thì cứ tranh cãi, thế giới này vẫn diễn ra hàng ngàn hành động mỗi ngày, như mình mỗi ngày lại vào Facebook Ngọc Trinh ngắm cô ấy một cái…

Gần 50 triệu nghiên cứu miễn phí mà ta nói không biết thế giới nghiên cứu gì thì đó là lỗi con người không cập nhật chứ không phải rào cản nào cả. Chưa siêu tiếng Nhật, chưa giỏi tiếng Anh thì copy bỏ Google translate thì ít nhất bạn cũng hiểu sơ bộ người ta nói gì? Đến vậy mà bạn không cập nhật thì thôi khỏi bàn, còn ngồi copy bài tổng quan trên Google rồi biên tập thành của mình thì thôi khỏi bàn luôn (kiểu hùng bàn phím biết tất càn khôn thiên hạ). Chưa kể cả nhiều người nổi tiếng, cầm bản thảo tiếng anh, chỉ một thao tác nhỏ, tất link ngầm nổi lên, ôi toàn chép Wiki… thiệt tội nghiệp người đọc.

Ms. Elbakyan đánh cắp dữ liệu nghiên cứu cho chúng ta dựa trên nguyên tắc: mọi người có quyền truy cập bất kể khả năng tài chính hoặc nguồn gốc của họ và đây là điều hoàn toàn hợp pháp”. Elbakyan tạo ra Sci-Hub để lấy các báo từ JSTOR, Springer, Sage và Elsevier…  Tạo hứng thú làm nên Libgen để lấy sách từ UC Press, Cambridge University Press, Penguin Random House, Routledge, Elsevier cho các nhà khoa học tìm được các bài cần đọc một cách miễn phí, ngoài ra LibGen được xem là một thư viện khổng lồ cũng cấp các bản scan pdf, epub, mobil một cách hoàn hảo nhất có thể cho người cần nó. Ngoài ra là góp sức của các GS, TS, NCS âm thầm cung cấp các tài khoản, sách một cách tự nguyện, điệp viên hoàn hảo là đây.

Trong khóa học Hà Nội (2019), GS. Christina Schwenkel còn cho biết việc đóng phí truy cập dữ liệu đến cỡ Harvard còn toát mồ hôi thì nói đến ai, hơn 15.000 nhà khoa học ký tên kêu gọi tẩy chay việc thu phí cao cho truy cập các nghiên cứu. Nhưng tạp chí cần tiền để trả tiền cho các nhà khoa học khích lệ nghiên cứu, nên phải thu phí… điều này cứ vậy lòng vòng hết ngày này qua tháng nọ.

Libgen.io đã thực sự là một cứu cánh của mình, nhờ nó mà tự tạo cho cá nhân một thư viện nhỏ cần thiết cho nghiên cứu. Cái quan trọng nhất chính là nhìn lại cách viết NCKH một cách cụ thể nhất để áp dụng cho bản thân. Từ bài giảng của GS. Stan giảng dạy thì đặt câu hỏi tại sao lại sử dụng phương pháp này, lý thuyết này, ông này có nói vậy không? Nói ở đâu, nói khi nào, cụ thể phát biểu đó thế nào?, điều đó cũng GS. Christina Schwenkel, GS. Stan hướng dẫn cụ thể và từ đó mở ra những bài đọc cần tham khảo từ đó áp dụng vào nghiên cứu của mình. Quan trọng nhất là vốn tiếng anh chuyên ngành cũng nhớ vậy cũng tăng lên.

Chưa kể nhờ http://gen.lib.rus.ec mình biết được rằng cái tên “Việt Nam” cũng hot trong giới NCKH trên thế giới chỉ sau Trung Quốc, một đối tượng tiềm năng cho tất cả các nhà khoa học trên thế giới và cả Việt Nam cày xới. Hơn nữa Libgen.io sẽ giúp cho ai nghiên cứu văn bản biết được nhiều nghiên cứu về Việt Nam đang được trích dẫn sai tên, năm, hay chỉ trích dẫn lại mà chưa hề cầm sách gốc, tạo nên hệ lụy kinh khủng…

http://gen.lib.rus.ec còn là kho tư liệu nghiên cứu về Việt Nam với nhiều nghiên cứu kinh điển đều có mặt ở đây…

Thế nên đào Libgen.oi đi… trước khi mọi thứ không còn miễn phí.

 

 

 

 

 

 

Posted in Nghiên cứu khoa học, Nhân học, Uncategorized | Leave a comment

DÂN TỘC HỌC? NHÂN HỌC CÓ NGHIÊN CỨU ĐÔ THỊ KHÔNG?


Thành phố có mặt từ lúc nào?

Ai có trước? một câu hỏi luôn gây nhiều tranh cãi (kiểu con gà có trước hay quả t rứng có trước?). Thành phố có trước hay con người có trước nhưng chung qui thì thành phố là gì nếu không có con người?, nếu con người sống trong thành phố thì đó thị dân đích thị.

Nhiều thành phố trên thế giới đều hình thành bên cạnh dòng sông, từ đó không gian sống của con người được mở rộng từ 1km qua thời gian lên đến hàng chục km, cho đến lúc này việc mở rộng đô thị chính là tính chất đặc biệt của một thành phố.

Con người sống trong đô thị vô cùng đa dạng, bên cạnh người dân định cư lâu đời (bản địa) thì thành phố luôn hấp lực hút người dân đổ về sinh sống… vì “đông vui” nhỉ? Nhưng thành phố là một tập hợp người đến từ nhiều vùng khác nhau, và họ mang trong mình hàng ngàn câu chuyện mà chẳng ai giống ai, hay mang cả vốn văn hoá kinh nghiệm của họ nên họ rời đi và áp dụng nó vào nơi họ đến (đó là tri thức bản địa, vốn văn hoá). nhưng không phải ai sinh ra cũng là thị dân?.

Từ London bên sông Thames hay Paris bên sông Seine, St. Peterburg bên sông Neva, Thượng Hải bên sông Hoàng Phố, Stockholm bên sông Gota, Vienna bên sông Danube, Bangkok bên Chao Phraya,… Việt Nam có Sài Gòn bên sông Bến Nghé, Đà Nẵng bên sông Hàn, Hà Nội bên sông Hồng… những làng chài, trạm buôn bé nhỏ từ đó dần hình thành nên các đô thị hiện đại, to lớn đến được gọi dưới nhiều cái tên “đại đô thị”, “siêu đô thị”…

Thành phố ban đầu cũng chỉ là đống hỗ lốn tập hợp một lượng dân cư nhất định, như các bộ lạc tiền sử, người tộc trưởng ở trung tâm và dân sống xung quanh thì đô thị cũng vậy. Vua chúa sống trong các thành quách trung tâm và người dân sống bao bọc bên ngoài, mọi hên xui may rủi người dân thường hưởng trước, chết trước… Thị dân cho đến mãi nữa đầu thế kỷ 18 mới hình thành do hình thành trung tâm công nghiệp, người dân kéo về London quá nhiều tạo nên các vùng định cư một cách vô tổ chức, kéo theo đó là các tệ nạn xã hội (trong đó có tệ nạn mại dâm), kẹt xe, thiếu việc làm, hình thành các khu ổ chuột… giải quyết kẹt xe, London bắt đầu có hệ thống giao thông, tàu điện ngầm (1863). Trước đó Londo đã bùng phát  đại dịch hạch (cái chết đen) giết chết hơn 100.000 người và ngọn lửa không rõ nguyên nhân thiêu rụi London mang đến quyết tâm tái cấu trúc đô thị London.

Nhanhoc_1

Khoa học nghiên cứu về đô thị

Bắt đầu từ chính trị học, một nhà khoa học đặt nền cho nghiên cứu về đời sống đô thị của người công nhân Anh chính là Friedrich Engles (The condition of the working class in England -1845)­­… nghiên cứu này của ông mở ra nhiều vấn đề về xã hội đô thị. Ông cho rằng vượt ra khỏi vũng lầy tối tăm, sự đối lập giữa nhu cầu của người dân và tầng lớp quyền lực đang băm nát đô thị.

Điều này phát sinh nhu cầu xây dựng một đô thị lý tưởng bắt đầu từ Robert Owen, Fourie rồi đến các thế hệ sau nữa… Dù phát triển đến đâu thì tiền đề của Friedrich Engles vẫn là những nghiên cứu hết sức có ý nghĩa làm thay đổi căn bản xã hội đô thị Anh và ảnh hưởng đến phát triển đô thị của các nước khác.

Các kiến trúc sư như Ebenezer Howard, Toni Garnier, Le Corbusier và Frank Lloyd Wright thấm đẫm trào lưu không tưởng cất công nghiên cứu các mô hình đô thị nhằm phục vụ các nhu cầu của con người.  Tuy nhiên giữa lý thuyết và thực tế có nhiều độ vênh nhất định, bắt buộc phải điều chỉnh (đến từ phản biện của các ngành khoa học khác).

nhanhoc_2

Từ nghiên cứu của nhà chính trị đến nghiên cứu của các kiến trúc sư chính là mạch nguồn tiếp nối… cho đến ngày này.

Chúng ta mong muốn có những khu vườn trong đô thị thật xinh đẹp lúc này, xin thưa từ 1898 thì Mô hình thành phố vườn (Garden City) của Ebenezer Howard đã được xây dựng và là sự kết hợp hài hòa giữa thành phố – nông thôn trong một xã hội hợp tác (cooperative society). Ebenezer Howard nghiên cứu những gì Friedrich Engles viết trong tác phẩm của mình. Chưa kể  ông còn ảnh hưởng văn học do nhà văn Edward Bellamy viết về một xã hội không tưởng trong tác phẩm Looking Backward (1887)… ôi nhà văn viết về đô thị không tưởng nhưng ảnh hưởng đến vị kiến trúc sư tài ba Ebenezer Howard đây chứ chứ kể đến nhân học (dân tộc học) nghiên cứu về đô thị sau này.

KTS. Tony Garnier chịu ảnh hưởng tiểu thuyết “Lao động” của Emile Zola, mô hình “thành phố công nghiệp” (Cité industrielle)…. Năm 1922, một mô hình lý tưởng khác gây tiếng vang do Le Corbusier đưa ra mang tên “Thành phố cho 3 triệu dân” (Le projet de ville contemporaine de trois millions d’habitants).

Đến Mô hình Broadacre city của Frank Lloy Wright năm 1935, không ủng hộ nhà cao tầng, xây dựng các khu phố nhằm giải tải cho trung tâm. Dự án của Ông chịu sự chỉ trích mạnh mẽ vì tác động xấu đến những vấn đề xã hội, phụ thuộc vào xe cá nhân, cộng đồng vô hồn, thiếu bản sắc và sự phát triển lung tung lan tỏa (sprawl) ngoại ô thiếu kiểm soát làm phá vỡ cấu trúc thiết kế ban đầu.

Bất chấp tất cả, Wright là kẻ vĩ đại đầy mộng tưởng trong xây dựng đô thị, ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20… nhưng để phát triển hơn, họ chịu nhiều chỉ trích của các nhà nghiên cứu xã hội đến từ các chuyên ngành Xã hội học, kinh tế, Nhân học và Văn hoá học… và thậm chí là từ các nhà qui hoạch – chấp nhận tính phản biện đô thị phương Tây đã có nhiều thay đổi nhất định.

Đối đầu giữa qui hoạch và các nhà xã hội

Để có tư duy quy hoạch nửa sau thế kỷ 20, Jane Jacobs một phụ nữ bình dân đã làm chấn động với dân qui hoạch đô thị, khi bả đã kích tư duy quy hoạch truyền thống vào thời điểm đó trên thế giới (và vẫn còn là đương đại ở Việt Nam). Tác phẩm The Death and Life of Great American Cities (Cái chết và Cuộc sống của những thành phố lớn nước Mỹ) trở thành cuốn sác gối đầu giường cho những ai nghiên cứu về đô thị. Có thể nói cuốn sách của bà thách thức mọi tư duy truyền thống và nhiều người có thể không đồng ý và chấp nhận. Tuy nhiên, như nhà xã hội học đô thị William Whyte đã viết: “Đây là một phản đề mà chúng ta rất cần” (theo Nguyễn Đỗ Dzũng).

jane-jacobs-robert-moses

Cuộc đối đầu của bà với Robert Moses, người phá huỷ nhiều khu dân cư truyền thống để xây dựng một New York hiện đại ngày nay trở nên nổi tiếng.

Jane Jacobs chống lại những dự án cải tạo đô thị mà không cần quan tâm đến cuộc sống hiện hữu của cư dân. Bà nêu giá trị nhân bản, kêu gọi bảo tồn cuộc sống “bừa bộn” (nguyên văn: “messy life”) của những con phố trong các khu dân cư truyền thống (kienviet.net).

Đô thị là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó có nhân học/dân tộc học

Đô thị còn là đối tượng nghiên cứu địa lý học, xã hội học, chính trị học, và kinh tế học và tất nhiên là đối tượng nghiên cứu của Nhân học. Bắt đầu bằng vốn xã hội –một thuật ngữ được xã hội học và nhân học chú ý như  Jane Jacobs,  Pierre  Bourdieu,  James  Coleman, Robert  Putnam,  Francis  Fukuyama , Hernando  de Soto, dù có khác biết về lý giải thuật ngữ, nhưng chung qui điều nhấn mạnh đến tính “cố kết xã hội”.

Nhân học đô thị nhấn mạnh muốn qui hoạch phản ánh thực tiễn đời sống thì cần phải tránh xung đột, hoặc cần phải giải quyết các vấn đề việc gia tăng các ngành nghề về phi nông nghiệp, sự mở rộng và tăng cường của môi trường và cuộc sống thành thị. Việc cải tạo, xây mới các đô thị không phải mọi người dân đều hưởng lợi từ những dự án này và ngay cả những người sống trong cùng một khu vực cũng có những nhìn nhận khác nhau về tính tích cực và tiêu cực của dự án.

Nhân học chỉ ra những mâu thuẫn nội tại của các cá nhân, giúp cho chính quyền đưa ra những quyết sách hợp lý, tránh được các xung đột.

Nghiên cứu nhân học đô thị Việt Nam đánh dấu bằng các nghiên cứu của giáo sư Mạc Đường, Nguyễn Văn Sửu, Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Thế Nghĩa… điều này phù hợp với thực tiễn của cuộc sống chứ không chỉ bó hẹp nghiên cứu về “tộc người”, “văn hoá”, mà còn là “sinh kế”, “thích ứng”, “chuyên đổi”, “không gian” đời sống của con người. Sau này, có nhóm nghiên cứu nhân học – xã hội học đô thị do PGS.TS. Nguyễn Đức Lộc chủ trì đã xuất bản những ấn phẩm có giá trị, thậm chí có trên giá sách của ĐH. Harvard về đời sống đô thị đương đại.

Không phải từ lúc này, mà từ thế kỷ XX, các nhà nhân học đã tập trung lý giải các vấn về cuộc sống của con người. Quá trình phát triển, các nhà nhân học đã phân tích thực hành văn hoá, thể chế xã hội, cấu trúc quyền lực thể hiện qua đời sống của các nhóm người ở từng góc phố bằng phương pháp so sánh. Gần đây các nghiên cứu về mạng lưới xã hội của các nhóm gia đình nhỏ, công nhân trong đô thị, di cư; biến đổi xã hội và môi trường trong sự mâu thuẫn địa phương, quốc gia trong mục tiêu qui hoạch. Hoặc dòng chảy văn hoá, hàng hoá, tiền mặt, lao động và dịch vụ giữa các thành phố và nông thôn trong các phân tích về đô thị.

Tuy  nhiên, đến cuối thế kỷ XX, diễn ngôn về đô thị và chính sách đô thị thường bị đẩy cho một  nhóm  nhà  học  giả  thuộc  ngành  kiến trúc,  lịch  sử, địa  lý,  quy  hoạch,  xã  hội  học và kinh tế học. Lịch sử và những phân tích về đô  thị của  họ rất  rộng  và  tập  trung  vào  đô  thị  như  là  một  phần  trong  diễn  ngôn  lý  thuyết có tính phê phán. Trong khi đó, các nhà nhân học quan tâm nhiều hơn đến các tiến trình đô thị hằng ngày, ví dụ nghiên cứu biến đổi không gian nhanh chóng của làng đã tạo cho người già nổi cô đơn, dù cho nhà cửa, phương tiện hiện đại hơn của TS. Nhân học Nguyễn Công Thảo, ông đề xuất hiện đại không chỉ là một con đường văn minh vật chất, mà còn là tái tạo không gian cố kết cộng đồng. Do đó, dù đô thị có hiện diện trong ngành nhân học, nhưng nó đã  không  “lý  thuyết  hóa”  để  có  được một tầm ảnh hưởng chủ đạo (Phan Thanh Thôi, 2013).

Gần đây, năm 2018, Facebook ngập trời bài chia sẻ nghiên cứu TS. Erik Harms, người nghiên cứu Nhân học thuộc Đại học Yale, Mỹ, với tựa đề “Xa hoa và đổ nát” (link tải sách:https://www.luminosoa.org/site/books/10.1525/luminos.20/), ông chỉ ra các vấn đề về diễn ngôn, trong đó có diễn ngôn cho rằng người dân Thủ Thiêm phá hoại tiến trình xây dựng đô thị Thủ Thiêm, phố Đông Sài Gòn.

images

Cuốn sách đang được ĐHQG-HCM dịch sang tiếng Việt….

Erik Harm lập luận: “Người dân Thủ Thiêm chưa bao giờ chống lại phát triển đô thị. Họ chỉ phẫn nộ khi mình là nạn nhân của một cơ chế đền bù bất công”, “không muốn hy sinh vô ích” và cần được “đền bù thoả đáng”. Ngoài ra, ở Thủ Thiêm việc đô thị hóa đã phá hủy tính cộng đồng. Trước kia dù Thủ Thiêm có người nghèo, người giàu nhưng tình làng nghĩa xóm rất cao, mọi người sống gắn bó với nhau. Trong quá trình đô thị hóa, mỗi nhà làm việc với BQL, chính quyền phường xã, làm cho mỗi nhà có hoàn cảnh khác nhau khiến tình làng nghĩa xóm mất đi. Chưa kể họ bị phớt lờ và thường bị đối xử như thể họ không hề tồn tại. Thủ Thiêm có đình An Khánh và An Lợi Đông và nhiều chùa, đền và nhà thờ khác phục vụ nhu cầu tâm linh của người dân.

Thủ Thiêm không phải là một khu đất trống, đó là một khu dân cư chứa đựng đầy đủ những tinh hoa văn hóa Việt Nam. Thế nhưng, vì một lý do nào đó, các nhà quy hoạch đã coi mảnh đất này là trống bất chấp rất nhiều bằng chứng về sinh hoạt dân cư. Họ vẫn phớt lờ tiếng nói của người dân kể cả trong quá trình xử lý “hồ sơ” – Erick Harm gọi hiện tượng này là “nhìn mà không thấy”. Các nhà quy hoạch chỉ nhìn chằm chằm vào mảnh đất và mơ về những dự án lớn trong tương lai.

Từ đó Erik Harm nhấn mạnh, phải có chính sách cho người hi sinh vì phát triển đô thị.

Một nghiên cứu khác của Erik Harm “Sài Gòn vùng giáp ranh: Những câu chuyện ngoài rìa”, với góc nhìn mới mẻ về trải nghiệm đô thị hóa của cư dân ở rìa TP.HCM. Erik Harms khám phá những “giao lộ nhập nhằng” giữa sự hình thành của những không gian cụ thể và mang tính biểu tượng, với những quan niệm của người Việt Nam về không gian xã hội, về mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị và về hai khái niệm “nội thành” và “ngoại thành.”

SaigonsEdge

Vậy nhà nhân học chỉ nghiên cứu về dân tộc học thôi sao…. Trong khoá học Tam Đảo năm 2015 tại Đà  Nẵng, hướng dẫn nhóm điền dã là 4 nhà nhân học… họ học địa lý, hoá học, nông nghiệp, chính sách công (Đại học), Thạc sỹ cũng là các chuyên ngành này và TS là Nhân học… vậy họ sẽ nghiên cứu tộc người thôi sao?

Tóm lại, kiến thức trong môi trường học thuật và thực tiễn có sự gắn liền với nhau và song hành cũng phát triển. Bản thân kiến thức không đứng yên mà cần đòi hỏi vun đắp, đối với nhà nhân học cũng vậy. Muốn có điều đó hãy đọc hàng ngày. Họ đã tiến xa so với những gì ta hiểu chỉ quanh quẩn nghiên cứu về “tộc người”.

Thiếu kiến thức, không chịu cập nhật kiến thức và chỉ chăm chăm chờ Google hỗ trợ, từ đó đưa ra những phán xét với não trạng của nhiều chục năm về trước, thì thật đáng sợ. Có lẽ sợ tụt hậu với thiên hạ nên chửi đổng cho biết mình cũng hiểu biết mà không thể tranh luận một cách đàng hoàng… chỉ hằn học nói: Dân tộc học/nhân học mà nghiên cứu đô thị cái gì?

Xin thưa nhiều chính sách đã thay đổi chính là tiếng nói của các nhà nhân học/dân tộc học đó… Còn nữa… không chỉ các nhà dân tộc học/nhân học, xã hội học, lịch sử và văn hoá học cũng đang chung tay phát triển đô thị bằng nhiều cách khác nhau. Nếu thông cảm và chia sẻ, đi đúng đường, đừng vất rác, đừng bóp kèn vô tội vạ hay luôn cư xử đúng với lương tâm của mình đã là may mắn… đừng tạo khẩu nghiệp bằng chính sự kém hiểu biết…

Ôi… muốn viết thêm chắc cả trăm trang nói về nhân học đô thị…. quan tâm thì inbox mình gửi tài liệu đọc chơi để biết nhân học/dân tộc học giờ nghiên cứu cái gì nha…

Posted in Lịch sử đô thi, Lý thuyết xã hội học, Nhân học đô thị, Uncategorized, Văn hóa đô thị, Xã hội học đô thị | Leave a comment

Xã hội học chính trị


Dù cho sức mạnh thế giới đã có nhiều thay đổi trong một thế giới toàn cầu hóa thì các sự kiện xã hội như xung đột chủng tộc, sắc tộc vẫn là một vấn đề lớn của xã hội đương đại. Mối quan hệ tương tác giữa bản sắc, quyền lực và xung đột trong tồn tại, biến đổi các mối quan hệ giữa các mô hình chủng tộc, sắc tộc trên toàn thế giới luôn có sự đan xen đa chiều kích…
Một nghiên cứu xã hội học chính trị của Stone và Rizova sử dụng cách tiếp cận so sánh của trường phái tân Weber để khám phá xung đột nhóm đã và đang tiếp tục bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong hệ thống quyền lực chính trị của thế giới như: chủ nghĩa tư bản toàn cầu, các tập đoàn đa quốc gia, các liên minh, thể chế xuyên quốc gia. Stone và Rizova đã chọn lý thuyết quyền lực của Weber để tiếp cận các mối quan hệ quyền lực của các xã hội cộng với cách phân tích của trường phái tân Weber. Sự phức tạp của quyền lực được Weber nhấn mạnh trong tác phẩm của mình, ông cho rằng cần đánh giá chúng ở nhiều loại hình quyền lực tác động đến mối quan hệ của các nhóm trên thế giới…

62542700_10211663498821344_6181255385521848320_o
Stone và Rizova phân tích các vấn đề về chủ nghĩa dân tộc, hậu chủ nghĩa dân tộc, chiến tranh giữa các chủng tộc, sắc tộc trong bối cảnh toàn cầu từ Nam đến Darfur; di cư toàn cầu; các cuộc nổi dậy Mùa xuân Ả Rập và ở nhiều khía cạnh khác nhằm tìm kiếm các chiến lược giải quyết xung đột và công lý…
Một lần nữa, xã hội hội chứng minh tính hữu ích, đa dạng trong tiếp cận của mình khi cung cấp các chiều kích hiểu biết giải quyết các vấn đề đương đại trong thập niên XXI; giúp cho sinh viên, giảng viên nhà nghiên cứu về kiến thức khoa học chính trị, quan hệ quốc tế trong bối cảnh xã hội đương đại…
Xã hội học… nhắc chi từ này nhỉ?

By Việt Thành

#sociology

#xahoihocchinhtri

Posted in Lý thuyết xã hội học, Uncategorized | Tagged | Leave a comment

Lô cốt Đông Hà – Nơi tuổi thơ tôi gắn liền


Tuổi thơ tôi gắn liền với thị xã Đông Hà nhỏ bé, thị xã tỉnh lị Quảng Trị ngày được tách ra khỏi tỉnh Bình Trị Thiên, giờ đã lên phố. Tất cả các trò của tuổi thơ tôi cùng bạn bè đều diễn ra nơi đây, tập trung quanh lô cốt Đông Hà, nào là đánh trận giả, trốn tìm, hay những buổi trưa nằm ngủ trong lòng lô cốt, mặc cho cái nóng thiếu đốt bên ngoài của những ngày hè Quảng Trị … Mỗi lần đi học về, tôi và các bạn lại tập trung ở đây chơi, vắt vẻo trên nòng pháo, nòng xe tăng hay chỉ đơn giản lấy sắt, nhôm đem bán mua kem và chơi điện tử.

285759_3819738310306_861357446_n

Chiều tết ên dòng sông Hiếu Giang – Đông Hà

535997_3788535250249_1521519347_n

Chiều 29 tết đường Hùng Vương – Đông Hà

Tuổi thơ của tôi và bạn bè tôi đều tập trung tại lô cốt này, vì thực ra không còn gì để chơi ở cái thị xã nghèo lúc đó. Thỉnh thoảng leo lên nóc lô cốt, nhìn quanh thị xã nhỏ bé, xác xơ, lún phún từng nóc nhà và chẳng thấy nổi một màu xanh mượt mà vào những ngày gió lào thổi …

Đứng trên nóc lô cốt, lúc trời quang, thoáng đãng nhìn thấy Cửa Việt với dãy cát trắng phau, hay cả màu xanh mướt của làng Gia Độ phía xa. Cũng ở nơi đây, tôi hay ngồi đợi mẹ đi chợ về để có quà bánh, cũng nơi đây chênh vênh nòng pháo đón chờ đoàn tàu Bắc Nam đi qua, mơ đến các vùng đất khác……

Rồi mọi thứ đến rất nhanh chóng, được tách ra khỏi tỉnh Bình Trị Thiên, đô thị hoá đến với cái thị xã nhỏ bé. Con đường Hùng Vương được xây dựng, vẫn còn đất đỏ, mưa lầy lội trong những ngày mưa. Chúng tôi thường lội đến trường trên con đường này, xe máy chạy bắn đất đỏ văng lên cả người, áo trắng nhuốm đất đỏ, thút thít khóc về thay áo. Cũng trưa hè chói chang, với cặp lồng cơm tôi đi học ca ba, trên con đường đất đỏ mù mịt đó, những kỉ niệm của một thời học sinh cấp 1 xa xôi.

Thị xã ngày đầu là thế đó, bụi đỏ, lầy lội và nghèo nàn. Tôi và các bạn vẫn tập trung ở lô cốt để chơi khi tan học về, dù cho nắng hay mưa, và giờ đây nó là đường Hùng Vương, là con đường đẹp nhất thành phố Đông Hà. Lô cốt vẫn đứng vững trong cái nắng, gió Lào Quảng Trị, chỉ khác mọi thứ người ta trút lên những chiếc xe tăng, ở trong lô cốt, đi qua bốc mùi, không ai dám vào đây nữa, trở nên đìa hiu, hoang tàn, thiếu bàn tay chăm sóc cho các di tích, di vật chiến tranh nên không còn như lúc đầu. Trước đây, thỉnh thoảng trèo vào lô cốt để ngủ trưa, thì giờ không thể đứng lâu dăm phút. Thỉnh thoảng chứng kiến những người khách phương Tây, hồ hỏi đứng bên chiếc xe tăng chụp hình, nhưng họ lắc đầu quay ra vì không chịu nổi mùi hôi bốc lên. Họ lắc đầu quay đi, còn tôi tự hỏi, sao không ai chăm sóc nó…. rồi cũng đợi chờ nó được trang hoàng, một chứng tích của một lịch sử hào hùng của mảnh đất này…

Rồi nó bị đâp bỏ, ngậm ngùi nhìn hình ảnh thân quen không còn nữa, cả cột cờ cũng bị tháo bỏ, sao mà đau lòng. Lúc còn nhỏ, nghe người ta bảo do tai nạn nhiều quá, lô cốt che tầm nhìn nên đập đi. Có lẽ trong qui hoạch đô thị, việc phá bỏ các di tích là chuyện bất khả kháng mới làm, di tích được giữ và tôn tạo nó, là di sản để dành cho con cháu mai sau biết về lịch sử của cha ông, không những trên những trang sách mà còn bằng các hiện vật hiện tại. Sự tiếc nuối sẽ mãi trong lòng thế hệ tôi và cả những thế hệ trước tôi, những con người của chứng nhân, của hoài niệm về mảnh đất này. Giờ chỉ còn lại những chiếc xe tăng đặt trên nền của quán cafe Ly Na cũ, gợi bao sự tiếc nuối, thay vào đó cái vòng xoay vô hồn, với hệ thống đèn led lòe loẹt.

Đôi lúc về quê tôi vẫn đứng ở đây để nhớ về cái lô cốt, cột cờ cả tuổi thơ tôi lớn lên từ đây… kỷ niệm đó nuôi tôi lớn những ngày xa quê. Xa quê, tôi vẫn nhớ về nó,nhớ trong sâu thẳm trái tim mình, nhớ cái thị xã nằm ở ngã ba biên giới nhỏ bé, thân thương. Nơi gia đình, người thân, bạn bè tôi ở đó trong cái nắng nóng 41oC, là đặc sản quê hương.

Tôi luôn nhớ về cái thị xã nhỏ bé, thanh bình, chan hoà đó. Nơi tuổi thơ của thế hệ tôi lớn lên với những góc nhỏ, những nơi chốn quen trong cái thị xã là một kỷ niệm… Nơi bây giờ đã lên thành phố nhưng tôi vẫn mơ về ngày cột cờ và lô cốt được xây dựng lại để cho con cháu mai sau hình dung nên một Đông Hà lịch sử – Một chi khu của thời chiến tranh, hơn ai hết đó là lịch sử của mảnh đất được tái hiện…..

Sài Gòn ngày 1/05/2012

Posted in Quảng Trị quê tôi, Uncategorized | 2 Comments

Đừng nhìn một chiều


SGTT.VN – Tôi là một trong số các chuyên gia đô thị kiến nghị tăng mức xử phạt vi phạm giao thông nhằm đưa hoạt động giao thông vào kỷ cương, nhất là giảm bớt các vụ vi phạm, các vụ tai nạn và ách tắc giao thông, nhưng lại không mấy đồng ý khi mức phạt tăng gấp 6 – 8 lần trong nghị định 71.

Mục đích phạt bằng biện pháp kinh tế, đánh vào túi tiền không phải là để tăng ngân sách, tăng tiền dưỡng liêm cho cảnh sát hay trừng phạt người vi phạm, mà cái chính là làm cho người dân nhớ lâu vì xót tiền để từ đó không vi phạm nữa. Nhưng mức tăng quá cao như thế nghe chừng chưa hợp lý, nhất là trong lúc kinh tế quá khó khăn vào thời điểm hiện nay.

Mục đích phạt bằng biện pháp kinh tế, đánh vào túi tiền không phải là để tăng ngân sách, tăng tiền dưỡng liêm cho cảnh sát hay trừng phạt người vi phạm, mà cái chính là làm cho người dân nhớ lâu vì xót tiền để từ đó không vi phạm nữa. Ảnh: Thanh Hảo

Biện pháp này rất tốt với những kẻ thường xuyên và cố tình vi phạm, nhưng sẽ là oan ức và thiệt thòi với những người dân lao động nghèo khó lỡ hay vô tình vi phạm. Nên chăng có cách thức tính điểm, ví dụ ghi hình lại biển số xe để khi vi phạm thêm một hoặc hai lần sau khi nhắc nhở lần đầu sẽ tiến hành phạt thực tế.

Về mặt kỹ thuật thì đây là một việc làm đơn giản mà lại làm cho người dân tâm phục khẩu phục, bởi có được một thời gian làm quen. Tuy nhiên, cũng cần nói lại cho rõ là biện pháp mạnh tay này chỉ thực sự hiệu quả khi có một hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông đảm bảo cho người dân thực hiện tốt các quy định cho hành vi vi phạm giao thông. Một khi hệ thống vận hành giao thông lại không đảm bảo như hệ thống đèn bị mất điện, tín hiệu giao thông thiếu hoặc sai, diện tích mặt đường trên một phương tiện giao thông không đủ, việc phân làn phân tuyến không hợp lý, các đường giao cắt quá nhiều, khó nhận biết… thì việc phạt nặng phải cân nhắc.

Ở đây sẽ có tác dụng trái ngược nhau, nếu người dân cảm thấy bị phạt oan và quá nặng sẽ ghét người đi phạt, tỏ thái độ và phản ứng tức thời không đúng. Ở một phía khác, đối với người thực thi công vụ thiếu đạo đức thì rõ ràng đây là cơ hội có thể… kiếm tiền! Một điểm khác nữa phải thấy là cơ quan công quyền có quyền phạt người dân khi người dân vi phạm, vậy người dân có quyền phạt lại người ra quyết định 71 này nếu anh chỉ biết phạt mà không đảm bảo được cơ sở hạ tầng kỹ thuật khiến người dân buộc phải vi phạm; chẳng hạn như kiện ngược lại cơ quan công quyền trong trường hợp này, bởi số tiền phạt cao đó không được đầu tư trở lại cho cơ sở hạ tầng.

Ở các nước châu Âu có quy định người bỏ rác thiếu ý thức ở nơi công cộng sẽ bị phạt rất nặng, nhưng nếu ở những nơi công cộng đó, trong bán kính 400m mà không có thùng rác thì người dân không những không bị phạt mà người phụ trách môi trường khu vực đó bị phạt. Ông Nguyễn Ngọc Tường, phó ban An toàn giao thông thành phố, thừa nhận mức phạt như vậy là rất cao và hạ tầng giao thông hoàn toàn chưa tương xứng với quy định 71. Tuy nhiên, điều khá vui là ông cho rằng áp dụng một thời gian mà thấy không hợp lý thì sẽ kiến nghị điều chỉnh lại (theo Tuổi Trẻ ngày 15.11.2012). Vậy, khi cơ quan công quyền thấy sai phải điều chỉnh lại (chắc là như thế) thì những người bị phạt rồi có được nhận lại tiền phạt không? Chắc là không. Vậy thì tốt nhất là nên thận trọng, đừng ngẫu hứng…

TS NGUYỄN MINH HOÀ

Posted in PGS.TS. Nguyễn Minh Hòa, Uncategorized, Đô thị học | 1 Comment

Giải bài toán kép về “lũ lụt trong biến đổi khí hậu” – Học gì từ Bangkok


TTCT – Tuần rồi, chính quyền TP.HCM cho hay sẽ cử một đoàn đi nghiên cứu thực tế và trao đổi kinh nghiệm phòng chống ngập lụt tại Bangkok (Thái Lan) vì “cần nghiên cứu xây dựng đề án, kế hoạch… để chủ động phòng chống ngập lụt cho thành phố”.

Trong một bài toán kép về “lũ lụt trong biến đổi khí hậu” mà cả Hà Nội và TP.HCM cùng phải đối mặt, nên ưu tiên những gì trước khi quá muộn?

 

Ngập do triều cường trên đường Lương Định Của, quận 2, TP.HCM – Ảnh: Minh Đức

 

Trận lũ để lại thiệt hại ban đầu ước tính 6 tỉ USD vừa qua ở Thái Lan mang đến những áp lực to lớn cho chính phủ trong việc giải quyết những vấn đề an sinh xã hội và kinh tế. Bangkok có thể là một dự báo trước cho TP.HCM, lý do là sự tương đồng nhiều mặt giữa hai đô thị này, từ thủy văn, địa chất, điều kiện tự nhiên đến mức độ tổn thương trước hiện tượng biến đổi khí hậu.

TP.HCM: Nghĩ lại về quy hoạch thoát nước đô thị

TP.HCM, thượng nguồn có hồ Dầu Tiếng điều tiết lũ cho lưu vực sông Sài Gòn và hồ Trị An làm nhiệm vụ tương tự cho lưu vực sông Đồng Nai. Nên nếu có mưa trên diện rộng xảy ra, áp lực thoát lũ cho đô thị trung tâm không lớn bằng Bangkok. Bên cạnh đó lại có vùng thoát lũ tự nhiên ở hạ nguồn phía nam Sài Gòn là khu vực sinh thái Cần Giờ chưa bị bêtông hóa nên việc tránh được những trận lụt khủng khiếp trong đô thị như xảy ra ở Bangkok là không khó.

Nhưng như vậy, liệu thành phố này có may mắn hơn Bangkok? Nếu nhìn vào quy hoạch thoát nước đô thị hiện thời, câu trả lời sẽ là không. Cứ sau mỗi trận mưa “tương đối”, ngay cả trong mùa khô, thành phố lại ngập nhiều nơi. Căn nguyên nằm ở việc mưa kết hợp thủy triều và một mạng lưới cống thoát nước được xây cách đây 50 năm đã xuống cấp nghiêm trọng.

 

Tiến sĩ Bhijit Rattakul, cựu thị trưởng Bangkok, hiện đang giữ chức giám đốc Trung tâm Chuẩn bị đối phó thảm họa châu Á, cho rằng lợi ích nhóm của giới xây dựng và đầu tư bất động sản sẽ là rào cản cho những quyết sách của chính phủ trong việc quy hoạch các vùng thoát lũ tự nhiên.

Cuối năm nay, mực nước triều có thể đạt tới đỉnh kỷ lục mới 1,58m, trở thành một thách thức lớn đối với các dự án chống ngập của thành phố. Dự định xây dựng tuyến đê bao ven sông Sài Gòn (từ Vàm Thuật đến sông Kinh) với kinh phí 8.300 tỉ đồng để chống triều cường, đặc biệt là khu vực quận 2 và Bình Thạnh – hai trong nhiều điểm nóng về úng ngập hiện nay – chỉ mới giải đáp được “bổ đề” về chống ngập trước mắt, trong vòng 3-5 năm.

 

Để có được lời giải hoàn chỉnh cho bài toán thoát lũ đô thị, phải xác định hướng quy hoạch tổng thể, nhất quán cho thành phố. Các nhà quy hoạch đô thị đều hiểu rõ rằng chính sách là yếu tố quan trọng nhất tác động đến quy hoạch. Mười năm trở lại đây, TP.HCM đã đưa ra chính sách phát triển, xây dựng các khu công nghiệp và đô thị ở khu vực phía Nam (gồm quận 7, huyện Nhà Bè và khu sinh thái Cần Giờ), khiến khu vực thoát nước tự nhiên của thành phố bị thu hẹp, làm cho tình hình ngập càng nghiêm trọng hơn. Liệu chính sách này có cần được chính quyền xem xét lại và điều chỉnh theo hướng hài hòa với thiên nhiên hơn hay không?

Khu vực thoát lũ của thành phố ở Nam Sài Gòn từ những năm cuối của thế kỷ trước đã được quy hoạch thành khu vực tập trung dân số thấp, có cơ sở hạ tầng thông thoáng tiêu biểu với khu đô thị cao cấp Phú Mỹ Hưng kết hợp khu sinh thái Cần Giờ, tương đối “thuận” theo tự nhiên sông Sài Gòn. Nhưng những năm gần đây, hàng loạt dự án chung cư cao tầng được ồ ạt “bổ sung” vào khu vực này.

Tư duy tranh thủ cơ sở hạ tầng mới và tốt sẽ làm rối quy hoạch của quận 7, làm tăng mật độ dân cư và mức độ bêtông hóa hạ lưu sông Sài Gòn. Nếu không rõ ràng trong lựa chọn mục đích quy hoạch (phát triển khu dân cư cao cấp hay phổ thông), nhất là xem nhẹ yếu tố thoát nước đô thị, Nhà Bè sẽ sớm mất đi sự thông thoáng và nhanh chóng bị lấn chiếm bởi các dự án xây dựng đô thị trong tương lai gần.

Trong trường hợp quỹ đất để phát triển đô thị của TP.HCM không còn nhiều, việc mở rộng quy hoạch đô thị về phía nam là khó tránh, chí ít ngay từ bây giờ phải nghĩ đến việc xây dựng hệ thống liên hoàn gồm đê, cửa cống và cảng biển có tác dụng điều tiết thủy triều ở cửa biển Cần Giờ. Một hệ thống liên hoàn tương tự đã được áp dụng thành công tại thành phố cảng Le Havre – khu vực hạ lưu sông Seine (Pháp), cho thấy việc phát triển hệ thống cảng ven biển trên các cửa sông sẽ tăng cường công tác duy tu bờ, nạo vét lòng sông ở các khu vực này. “Nhất cử lưỡng tiện”, nhờ đó mà quy hoạch thoát nước đô thị cũng được hưởng lợi.

Trong tư duy quy hoạch đô thị ở Việt Nam hiện nay có xu hướng chia đô thị thành các vùng và đường vành đai (Périphérique) theo hình mẫu đô thị Paris, nhằm mục đích chính giảm áp lực dân số và giao thông cho khu vực trung tâm, kết hợp phát triển quy hoạch theo chiều ngang (hạn chế nhà tầng cao của kiến trúc trong nội ô). Hà Nội là một ví dụ tiêu biểu đang đi theo trường phái này.

Riêng trường hợp TP.HCM, về khía cạnh quy hoạch thoát nước đô thị rất nên tham khảo khuynh hướng quy hoạch thành phố theo chiều đứng mà thủ đô Berlin (CHLB Đức) đã áp dụng thành công. Với mật độ dân số cao hơn chút ít (3.900 người/km2) so với TP.HCM, người Đức đã chọn cách phát triển Berlin bằng những cao ốc, chung cư để giải quyết nhu cầu nhà ở và thương mại cho người dân. Ngay cả trong trung tâm thành phố, các cao ốc này nằm hài hòa cạnh những công trình kiến trúc từ thời đại đế Friedrich II mà không hề phá hủy nét đẹp của các kiến trúc cổ này.

Berlin lại có đủ diện tích để xây dựng những đại lộ rộng lớn, hạn chế tình trạng tắc nghẽn giao thông và vẫn có một quỹ đất lớn là rừng, công viên, vườn, sông và hồ ngay trong đô thị. Điều này càng có giá trị nếu đối chiếu với tình trạng không đủ diện tích cho thi công tại TP.HCM, vốn dẫn đến vấn nạn hàng nghìn “lô cốt” chiếm lòng đường trong khi tiến hành dự án nâng cấp hệ thống thoát nước.

Hà Nội: Đâu là vùng thoát lũ?

Phòng lũ cho Hà Nội lại có những đặc điểm khác TP.HCM và Bangkok. Trên hệ thống sông Hồng có hàng loạt hồ chứa có nhiệm vụ phòng chống lũ có thể chứa hàng tỉ khối nước, như hồ thủy điện Hòa Bình và thủy điện Sơn La (trong tương lai) trên sông Đà, năm thủy điện đang được xây thêm trên sông Lô. Thủ đô có hệ thống đê bảo vệ và những khu phân chậm lũ, nếu lũ lớn uy hiếp Hà Nội, có thể phân lũ vào các khu đó. Ngoài ra, do xa biển nên Hà Nội không gặp vấn đề thủy triều xâm mặn. Câu chuyện phòng lũ

của Hà Nội nằm ngay trong việc là vận hành tốt hệ thống phòng chống lũ, bảo vệ đê và diện tích các hồ điều hòa trong thành phố.

Sau trận mưa lớn “biến phố thành sông” năm 2008 lịch sử, có ý kiến đề nghị tỉnh Hà Nam “hi sinh” hút bớt nước sông Nhuệ để cứu thủ đô. Đây cũng là điều xảy ra trong trận lũ lụt ở Thái Lan vừa qua nhưng với mức độ căng thẳng hơn. Người dân ở Sing Buri, Chai Nat và Nakhon Sawan, theo Bangkok Post, đã đặt dấu hỏi về chính sách xả lũ của Cơ quan thủy lợi quốc gia Thái Lan.

Vùng đô thị muốn xả nước về phía nông thôn với lập luận phải bảo vệ các khu dân cư đông đúc, còn nông thôn muốn xả nước vào khu vực thành phố để bảo vệ các cánh đồng lúa. Thậm chí trong ngày 7-10 ở tỉnh Ayutthaya, nơi lũ lụt trầm trọng nhất, đã xảy ra nổ súng đe dọa lẫn nhau giữa nông dân và người sống ở đô thị do tranh cãi về việc ngăn dòng lũ. Tình cảnh đó xảy ra vì thiếu vắng một quy hoạch toàn vùng cho thoát lũ, nên lúc cấp bách mới có những tranh chấp căng thẳng như vậy trong chuyện hứng chịu lũ giữa các địa phương.

Trong dự án “Quản lý sự tác động của biến đổi khí hậu” của Bộ Sinh thái Cộng hòa Pháp, các chuyên gia rất quan tâm đến hai thành phố là cửa thoát lũ của hai con sông lớn Garonne (Bordeaux) và sông Seine (Le Havre). Tại đây, họ tiến hành tính toán về khả năng ngập lụt của thành phố trong các kịch bản cực đoan của thời tiết như: sóng tràn qua đỉnh đê, nước lũ từ thượng lưu sông đổ về tăng đột biến kết hợp với mưa lớn sẽ làm hai thành phố ngập theo các mức độ khác nhau về các chỉ tiêu thời gian, độ cao và diện tích ngập lụt.

Từ các kịch bản này, nhà khoa học sẽ thống kê thiệt hại về kinh tế, xã hội của thành phố dựa trên thực trạng dân cư, cơ sở vật chất của khu vực. Mô hình đánh giá này sẽ được nhân rộng ra các thành phố lân cận và từ đây bằng những phép so sánh sẽ là những cơ sở khoa học giúp chính quyền của vùng đưa ra quy hoạch phân lũ và xả lũ khi thảm họa xảy ra.

Điều đó có thể là một tham khảo hữu ích cho Hà Nội trong việc xây dựng bản đồ quy hoạch thoát lũ khu vực. Sau đó, quy định mức độ ưu tiên phân lũ giữa các địa phương, đồng thời thông tin đến cho người dân về các kịch bản sẽ xảy ra khi lũ về để kịp thời có những biện pháp ứng phó hợp lý. “Tiên hạ thủ vi cường”, chủ động dẫn đường bao giờ cũng tốt hơn chèo chống.

NGUYỄN ĐĂNG TRÌNH

Posted in Môi trường và các vấn đề xã hội, Đô thị học | Leave a comment

Văn hóa làm gì cho phát triển?


TTCT – Trong hội thảo về phát triển văn hóa tại TP.HCM tuần qua(*), nhà thơ Trần Đăng Khoa đặt điểm nhìn từ vùng quê của ông để không ngớt lời khen sự phát triển kinh tế nước nhà trong mấy năm qua, gọi đó là “những bước tiến rất ngoạn mục”. Nhưng rồi ông đưa ra một cảm nhận: chúng ta quá quan tâm đến kinh tế mà bỏ quên văn hóa.

Một cộng đồng đang trong nạn kẹt xe thì chen lấn, giành đường sẽ thành một thứ “văn hóa” giao thông? Trong ảnh: giao thông rối loạn tại giao lộ Lý Tự Trọng – Tôn Đức Thắng, Q.1, TP.HCM – Ảnh: T.T.D.

 

Phó giáo sư, tiến sĩ, nghệ sĩ Trần Luân Kim từng nói “nếu bây giờ mà ngồi kể những chuyện văn hóa xuống cấp, đạo đức xuống cấp thì nhiều lắm”. Nói thế tức là văn hóa dự phần vào nhiều sự việc diễn ra trong đời sống, văn hóa nằm ngay trong mọi hành vi của con người. Nhưng, nhìn văn hóa theo hướng đó tức là chỉ nhìn vào bề ngoài cùng các mối quan hệ của văn hóa. Điều này khiến cho những nhà phê bình, thậm chí có cả nhà nghiên cứu, nhà làm chính sách có một lối hình dung: về văn hóa, nói chỗ nào cũng được.

Nhưng để phân biệt được các khái niệm văn hóa, chẳng hạn trong “văn hóa kinh doanh”, “văn hóa Óc Eo” hay “văn hóa bị lai căng” thì nhiều người lúng túng. Do vậy, khi nhìn thấy người Hà Nội bẻ hoa, trộm hoa, giẫm đạp hoa trong lễ hội, người ta cho là văn hóa xuống cấp. Với thầy giáo mua dâm học sinh, học sinh đâm chết cô giáo cũng cho là văn hóa suy đồi.

Tại sao lại có loại văn hóa ấy nảy sinh, tồn tại và đang có nguy cơ phát triển? Lý giải điều này thường làm phát sinh nhiều cuộc tranh cãi hơn là mang lại kết quả, trong đó phần lớn là do tiếp cận và hiểu văn hóa từ nhiều hệ quy chiếu khác nhau, chẳng khác gì một người bảo “tôi bị thương ở tay”, còn người kia nói “còn tôi bị thương ở Quảng Trị”.

Xét về nội dung, văn hóa là giá trị được định hình tự nhiên thông qua các chủ thể với những điều kiện tương ứng. Khi nhân loại chưa có ôtô, người ta vẫn có thể có văn hóa trong đi lại, và dĩ nhiên là khác với văn hóa trong đi lại bằng ôtô. Một cộng đồng ăn cơm bằng đũa và một cộng đồng ăn bằng tay cũng đều làm nên các giá trị văn hóa trong hành vi đưa thức ăn vào miệng. Đây cũng là yếu tố quyết định sức mạnh của văn hóa: nội dung ý nghĩa và các quan hệ của văn hóa gặp nhau ở sự thừa nhận của cộng đồng – tức chủ thể sáng tạo của loại hình văn hóa ấy.

Không phải là sản phẩm thụ động

 

Quản trị đất nước chính là biết làm sao cho sự vận hành của các thiết chế, trong đó có văn hóa, được hiệu quả và tiến bộ. Nếu việc đó được giao cho nhân dân, chính mặt bằng dân trí trong từng thời đoạn sẽ quyết định cách thức quản trị xã hội như thế nào.

 

Cho nên những giá trị kết tinh thành văn hóa là có quy luật và những hệ quả kèm theo. Một cộng đồng đang đắm chìm trong nạn kẹt xe thì sẽ làm phát sinh một loại văn hóa giao thông đặc thù, mà hành vi giành đường nhau chỉ là một trong những biểu hiện của kiểu cách đi lại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng; những cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hóa mới đủ điều kiện phát triển được”(**). Nếu tiếp cận văn hóa như nhận định của Bác thì để có một văn hóa giao thông bằng chị bằng em, người ta phải tập trung giải quyết nạn kẹt xe, chứ không nên nhăm nhắm vào việc tổ chức một đội ngũ cán bộ văn hóa tuyên truyền vận động mọi người không giành đường nhau.

Thực tế cho thấy cách tiếp cận của những người làm chiến lược văn hóa ở nước ta lại không đồng bộ. Hội đồng Lý luận phê bình văn học, nghệ thuật trung ương vừa tổ chức một hội thảo nhằm xác định vai trò, vị trí của văn hóa trong mối quan hệ với kinh tế, tìm cách để tăng trưởng kinh tế hài hòa với phát triển văn hóa như một giải pháp căn bản cho phát triển bền vững.

Tại đây, quan điểm của GS.TS Đinh Xuân Dũng được nhiều người chia sẻ: “Văn hóa không phải là sản phẩm thụ động của kinh tế mà có tác động trực tiếp đến quá trình kinh tế, vì vậy kinh tế không tự mình phát triển nếu thiếu nền tảng văn hóa”.

Nhưng rất nhiều ý kiến “tắc” lại ở chỗ cho rằng cần có chính sách văn hóa, nhưng không bàn được đằng sau chính sách ấy là gì, thế nào là chính sách dành cho văn hóa. Ở VN, chúng ta phân chia văn hóa theo từng lĩnh vực, hình thành các ngành chuyên/chức năng, và chính sách chỉ là điều kiện cần cho cả hệ thống ấy vận hành. Cung cách hành chính này gây nhiều trở ngại, chẳng hạn khi bỗng dưng nảy sinh một vụ giảng viên gạ tình đổi điểm thì người ta chẳng thể biết chính xác căn nguyên nguồn cội của tệ trạng ấy đến từ đâu.

Tồn tại bất phân ly

Mọi hoạt động văn hóa đều là sản phẩm của con người và trong một quốc gia, nhân dân chính là chủ thể của các giá trị văn hóa. Sự thịnh suy của văn hóa xét cho cùng đều từ nhân dân mà ra, nếu nhân dân có quyền làm chủ xã hội, cơ cấu tổ chức xã hội được hoạch định trên nền tảng bắt buộc là ý chí của nhân dân, và bộ máy nhà nước cũng vận hành theo đúng ý chí ấy. Nhân dân vừa là người chịu trách nhiệm cho sự vận hành của các thiết chế xã hội mang ý nghĩa đại diện cho mình, đồng thời cũng là người thụ hưởng kết quả của sự vận hành ấy.

Có lần, khi một phóng viên hỏi nếu được làm bộ trưởng văn hóa, việc đầu tiên ông sẽ làm gì, dịch giả Phạm Viêm Phương đã thẳng thắn trả lời: Tôi sẽ không làm gì cả mà xin từ chức. Lý giải thêm cho việc ấy, ông dẫn: có nhiều quốc gia không có bộ văn hóa. Ngụ ý của ông là dù không có một cơ quan chuyên trách văn hóa trong nội các, không có nghĩa quốc gia mà nội các ấy đang điều hành bị thiếu hẳn văn hóa.

Quản trị đất nước chính là biết làm sao cho sự vận hành của các thiết chế, trong đó có văn hóa, được hiệu quả và tiến bộ. Nếu việc đó được giao cho nhân dân, chính mặt bằng dân trí trong từng thời đoạn sẽ quyết định cách thức quản trị xã hội như thế nào. Ta có thể thấy một ví dụ điển hình về các giá trị văn hóa vốn hình thành và tồn tại bất phân ly với kinh tế ra sao, như tại cùng một đảo quốc suýt soát Phú Quốc của ta, văn hóa nơi đó trước và sau khi hình thành quốc gia Singapore là hoàn toàn khác biệt.

Ngày nay chúng ta có thể tìm lại trong lịch sử câu trả lời. Từng có những triều đại phát triển rực rỡ trên nền tảng những cống hiến ý tưởng, vun đắp tinh thần của trăm họ, lại có những triều đại quay mặt đi trước những đề xuất canh tân. Trong tương lai, các thế hệ sau cũng sẽ đánh giá về văn hóa của thời đại chúng ta đã tương quan như thế nào với việc phát triển đất nước.

Nếu không phải là dân trí thì quan trí sẽ nhận phần trách nhiệm. Đó là điều sòng phẳng của lịch sử. Đó là chưa kể trong khi những thăng trầm của kinh tế còn có thể xoay chuyển, cứu chữa bằng nhiều biện pháp cấp thời, thấy được kết quả trong ngắn hạn, thì biến động của văn hóa xã hội, vốn khó nhận diện, khắc phục hơn, mỗi tổn thương và chuệch choạc cũng để lại những di chứng nặng nề hơn. Đó chính là điều cần suy nghĩ khi đi tìm sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa – xã hội.

LAM ĐIỀN

__________

(*) Hội thảo “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, văn học và nghệ thuật trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” .
(**) Đinh Xuân Dũng dẫn theo Hồ Chí Minh, về văn hóa, Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản, HN, 1997, tr.320.

Posted in Văn hóa đô thị, Xã hội học và các vấn đề xã hội, Đô thị học | Leave a comment

Bày biện lại bữa tiệc buffet đô thị


TTCT – Thu phí giao thông cá nhân hầu như chắc chắn sẽ được thực thi, nhất là sau khi nghị quyết phiên họp tháng 2 vừa qua của Chính phủ yêu cầu Bộ Giao thông vận tải và Bộ Tài chính “khẩn trương” trình phương án thu phí.

Không giải quyết rành rẽ vấn đề giao thông, đô thị sẽ là ác mộng với số đông – Ảnh: Thuận Thắng

Sức hút trung tâm đô thị lớn

Khu vực trung tâm các đô thị lớn thường có lợi thế về kinh doanh, tiếp cận khách hàng có khả năng chi trả cao, là điểm hẹn của khách du lịch, trung tâm văn hóa và giải trí. Vì vậy đây là vị trí đắc địa để gia tăng khai thác, cho thuê mặt bằng và đầu cơ mua sắm bất động sản với kỳ vọng tận dụng được các yếu tố ngoại ứng “không mất tiền mua” này.

Giá bất động sản ngày càng tăng đã thúc đẩy quá trình “chất thêm tầng” các công trình xây dựng hiện hữu hay chuyển đổi mục đích khai thác sang loại hình khác để mỗi đơn vị diện tích có nhiều khách hàng đến hơn, thu lợi nhuận cao hơn. Thực tế đó càng làm gia tăng nhu cầu đi lại vào khu vực này.

Tuy nhiên do đã được xây từ lâu – thuở đi xe đạp là chủ yếu – nên cơ sở hạ tầng giao thông ở trung tâm không thể đáp ứng tốc độ gia tăng nhu cầu đi lại như hiện nay, sự thay đổi cơ bản của các loại hình phương tiện giao thông hiện nay. Đô thị càng lớn, nhu cầu đi vào trung tâm càng cao; đô thị càng phát triển nhanh, vốn thu hút càng nhiều hơn để cải tạo. Điều này luôn mâu thuẫn với “khả năng chịu tải” của không gian và hạ tầng – những yếu tố cứng rất khó thay đổi.

Việc khai thác không gian đô thị dưới giác độ kinh tế có thể được hình dung như một bữa tiệc buffet với khách đến dự để thưởng thức các “món ngon” là các điểm thu hút ở trung tâm đô thị. Người có bất động sản có thể bày đồ bán cho khách ăn. Người ở bên ngoài đến muốn ăn phải trả phí vào cửa: bao gồm tiền thuê địa điểm (hay chỗ ngồi) và chi phí đi lại, thuế (chống tắc nghẽn, vào nội ô).

Khách VIP (như người sử dụng xe hơi) đòi hỏi đường rộng và có đủ chỗ đỗ xe. Giải pháp phân làn cho xe hơi, cũng như dành đủ lối đi riêng cho khách VIP, không phải lúc nào cũng có tác dụng, bởi khi làn đường hẹp thì việc phân làn triệt để thực chất làm giảm hiệu quả sử dụng không gian vào giờ cao điểm. Chuyện lấn tuyến của đa số khách đi xe hai bánh vốn phải chen chúc trong lề, do vậy, là một thực tế giao thông khó tránh.

Dù có chính sách thu hút đầu tư, di chuyển các dịch vụ ra ngoài khu vực trung tâm, nhưng dường như các nhà quản lý vẫn thỏa hiệp chất tải thêm vào các khu vực hạ tầng còn yếu. Nỗ lực cải tạo hạ tầng ở trung tâm có tăng lên thì khó có thể so sánh với tốc độ tiêu xài của khách đi xe hơi cá nhân. Ưu tiên phân làn cho xe hơi vào trung tâm chắc chắn dẫn đến giảm không gian cho xe máy – nhu cầu đi lại của đa số. Cần nhớ rằng số lượng xe hơi chỉ bằng 1/8 xe máy tại Hà Nội hay 1/10 tại TP.HCM (năm 2011), theo báo cáo của sở giao thông vận tải hai thành phố này.

Với thực trạng hiện nay, khách hàng không còn nhiều lựa chọn để tiếp cận tới nơi cần đến, tuyến phải đi và nơi đỗ xe. Tình trạng ùn tắc trên các tuyến chính càng làm giảm chất lượng cuộc sống và gia tăng chi phí xã hội, gia tăng ô nhiễm về lâu dài. Nếu không giải quyết, “bữa tiệc buffet đô thị” sẽ dần trở thành “ác mộng” cho số đông, bất bình đẳng ngày càng tăng bởi số người thu lợi lớn là rất ít trong khi cơ sở chi phí chung cho tất cả người tham gia lại tăng lên không ngừng.

Nếu để tình trạng này kéo dài: khách đến ngồi thêm không trả phí; người bày hàng dùng thêm tài nguyên mà không trả thêm cho ban tổ chức; và không điều tiết, kiểm soát đầu vào thu cho đủ thì chính quyền đô thị cũng sẽ khánh kiệt. Bữa tiệc buffet trở thành quá rẻ cho những người “ăn tham” và họ sẽ ngày càng đông. Tiếp tục bao cấp và bù đắp từ các khu vực khác, nguồn thu khác chỉ càng làm gia tăng bất bình đẳng xã hội theo khu vực và theo nhóm thu nhập.

Ðể bữa tiệc vẫn còn “xơi được”

Có năm lời giải cho các vấn đề trên, mà đầu tiên là nguyên tắc “nhà chật đừng sắm salon to”. Xe hơi cá nhân – phương tiện chiếm dụng nhiều tài nguyên và không gian đô thị nhất, ô nhiễm cao – cần hạn chế vào trung tâm giờ cao điểm. Cách làm này là thu phí vào trung tâm giờ cao điểm – phương án mà TP.HCM đang nghiên cứu. Việc hạn chế cần giải quyết đồng bộ với quản lý bãi đỗ xe như tăng phí trông xe giờ cao điểm, giới hạn thời gian đỗ và tăng phí giữ xe ở trung tâm.

Nguyên tắc thứ hai là “dùng nhiều phải trả nhiều”. Trong không gian hạn hẹp trung tâm đô thị, việc chiếm dụng nhiều hơn tài nguyên công cộng của người này đồng nghĩa hạn chế quyền của người sử dụng phương tiện khác và “bóc lột” số còn lại bằng chi phí thời gian và nhiên liệu. Sử dụng xe hơi ở trung tâm làm phát sinh chi phí xã hội thì cần phải bồi hoàn cho xã hội qua cước vận tải công cộng. Dùng càng nhiều trả không tương xứng là nguyên nhân cạn kiệt tài nguyên chung và vô tình khuyến khích sử dụng phương tiện cá nhân. Chi phí xã hội của xe hơi phải được tính ngược lại người sử dụng bằng thuế chống tắc nghẽn, giá xăng/lốp/phụ thu, và phí đỗ xe cao theo khu vực.

Nguyên tắc thứ ba “kiểm soát số khách vào cửa”. Việc xác định ngưỡng chịu tải của hạ tầng đô thị rất khó do những cố gắng của chính quyền đô thị, thích ứng của người dân và công nghệ đáp ứng nhu cầu đi lại như nâng cấp cải tạo cơ sở hạ tầng và phân bố lại “quầy hàng” (quy hoạch lại); nhưng rõ ràng vẫn có thể kiểm soát vấn đề này bằng cách đo xem mỗi dự án sẽ làm ảnh hưởng đến khu vực lân cận như thế nào. Nếu mỗi công trình có thể làm xấu đi, và xấu đi đáng kể so với hiện trạng thì phải kiên quyết gác lại chờ giải quyết xong tắc nghẽn hiện có. Vấn đề quan trọng là công cụ, năng lực và tính liêm chính của đội ngũ gác cửa (quản lý quy hoạch và giao thông đô thị).

Thứ tư là “bố trí lại khu bày tiệc và cách ăn”. Việc bố trí lại được cân nhắc từ chuyện đưa cơ sở/dịch vụ nào ra ngoại ô, bố trí lại hướng tuyến vận tải và tuyến hành khách, bố trí lại điểm đỗ xe, tổ chức thời gian – phân luồng và phân thời gian – đổi giờ đi lại. Việc phân luồng và hạn chế thời gian hoạt động trong nội ô cần áp dụng cho cả xe hơi cá nhân vào giờ cao điểm ở một số khu vực để loại hình này tự điều chỉnh chỉ đi vào giờ thấp điểm. Có thể bán (thậm chí bán đấu giá) quyền đổi biển số (ví dụ màu vàng) cho doanh nghiệp và người thu nhập cao được đi vào mọi thời gian (ví dụ 1-3 triệu đồng/tháng). Những người đi ít mua vé theo ngày và trừ vào thẻ tự động – nạp thẻ cào.

Thứ năm là “mở rộng bàn tiệc và khả năng phục vụ”. Song song với việc đầu tư vào hệ thống xe buýt, tàu điện (tàu ngầm và trên cao) thì mạng lưới cần được đầu tư nâng cấp, đặc biệt là các nút giao thông của các tuyến đường chính. Theo tiêu chuẩn, bề rộng mỗi làn xe khi vào các ngã tư phải rộng gấp ba lần bề rộng bình thường mới đảm bảo giảm thiểu ùn tắc. Trong khi đó, rất ít nút giao thông hiện nay đảm bảo chỉ tiêu này và chúng ta đang đầu tư dưới tầm cho các nút giao thông lớn về cả công tác quy hoạch, quản lý lẫn đầu tư.

Bài toán của giao thông đô thị tựu trung ở việc đáp ứng nhu cầu đi lại của tuyệt đại đa số với chi phí thấp hơn, thuận tiện hơn, nhanh hơn và công bằng hơn. Bữa tiệc buffet đô thị phải là tiệc vui cho số đông, mang lại sức khỏe cho toàn bộ hoặc chí ít là đại đa số khách hàng sinh sống hay đến với mỗi đô thị. Vấn đề kinh tế cần các giải pháp kinh tế và cần phải áp dụng đồng bộ lâu dài để các giải pháp hành chính và kỹ thuật có thể phát huy hiệu quả.

Người đi xe hơi đang trả cùng mức phí như người tham gia giao thông khác trong khi họ chiếm dụng tài nguyên nhiều hơn: khoảng 5 lần khi đỗ xe (15m2/3m2 – tính cả đường vào), 4 lần khi lưu thông trên đường (20m2/4m2) và 6 lần khi lưu thông qua nút giao thông (năng lực thông ôtô qua nút giao thông ít hơn – bằng 1/6 xe máy trong điều kiện đường đông). Cứ mỗi xe hơi tăng thêm nhưng chỉ chở 1-2 người, số người xếp hàng (ùn tắc) sẽ càng dài thêm bởi đơn giản nó chiếm dụng chỗ đứng của 4-6 người khác. Trong khi đó, số người bình quân trong mỗi xe hơi để đi làm chỉ là 1,5 và nếu chủ xe không tự lái xe thì thực tế khả năng phục vụ chỉ là 1.

TS NGUYỄN NGỌC HIẾU
(Học viện Hành chính)

__________

(1) Bữa tiệc buffet cho phép người ăn đông hơn số chỗ ngồi; khách có thể chọn chỗ ngồi linh hoạt, ăn theo sở thích. Ðồ ăn được cung cấp điều chỉnh theo nhu cầu khách ăn.

Posted in Kinh tế đô thị, Đô thị học | 2 Comments

Đánh thuế nhà – Điều quan trọng là tính hợp lý của thuế


TTCT – Đề án “Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai và tài sản nhà nước phục vụ phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2020” mà Bộ Tài chính vừa công bố xem xét cả việc xây dựng Luật thuế tài sản để đánh thuế nhà.

Theo GS.TSKH Đặng Hùng Võ, nên “dùng thuế nhà, đất đầu tư cho hạ tầng thay vì loay hoay với bài toán thu phí”.

 

Thuế nhà chỉ cần tập trung vào các đô thị lớn, có thể miễn giảm cho những nơi kém phát triển. Trong ảnh: Các cao ốc tại trung tâm Q.1, TP.HCM – Ảnh: T.T.D.

 

Theo ông Đặng Hùng Võ, việc chậm trễ đánh thuế nhà và đánh thuế đất quá thấp là nguyên nhân chúng ta lúng túng trong giải quyết bài toán phát triển hạ tầng và dịch vụ công cộng, cũng là nguyên nhân của tình trạng hàng trăm biệt thự, nhà đất để không như hiện nay, gây lãng phí và làm méo mó thị trường bất động sản.

Tăng thu ngân sách?

 

Chính sách thuế trước hết phải góp phần điều chỉnh được thị trường bất động sản hoạt động minh bạch, phát triển bền vững và điều chỉnh quá trình phát triển đô thị chứ không phải chỉ tính mỗi việc là đóng góp vào ngân sách nhà nước bao nhiêu tiền mỗi năm 

* Từ ngày 1-1-2012, Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp chính thức được áp dụng. Cơ quan thuế tính toán tiền thuế đất nhiều khu vực ở đô thị lớn sẽ cao gấp 40% so với mức cũ. Như vậy chính sách vẫn chưa đủ mạnh, thưa ông?

 

– Tỉ suất thuế tính vào giá trị đất theo bảng giá do UBND cấp tỉnh quy định là 0,03%, lũy tiến cao nhất cũng gần 0,1%, được xem là quá thấp. Hơn nữa, còn không đánh thuế vào nhà ở. Trong khi các nước khác, kể cả các nước đang phát triển, thì mức 1% được áp dụng phổ biến. Hơn nữa, 1% của họ tính theo giá trị thị trường, còn ở ta là 0,03% theo bảng giá đất nhà nước, thấp chỉ bằng 10-50% giá thị trường. Theo tôi, mức thu hiện hành cũng chỉ gấp ba lần mức thuế nhà đất trước đây (tức là trước 2kg thóc/m2/năm ở những nơi trung tâm, giờ là 6kg thóc/m2/năm). Như vậy, tác động duy nhất là tăng thu ngân sách gấp ba lần.

Tôi chưa thấy người dân nào lo lắng phải đưa vào sử dụng hay chuyển nhượng hoặc cho thuê nhà đất đang dự trữ vì luật thuế này. Thế nên biệt thự bỏ hoang vẫn bỏ hoang, đất mua để dự trữ vẫn còn đó. Đầu cơ nhà đất cứ thị trường nóng lên là bùng phát.

Quan trọng hơn, mức thu thuế nhà đất cao hơn chính là nguồn để đầu tư phát triển hạ tầng và dịch vụ công cộng, thay vì phải sử dụng ngân sách từ nguồn khác và vốn vay ODA để mải miết phát triển hạ tầng mà vẫn không thấm vào đâu. Đường tắc vẫn tắc. Các nhà quản lý ngẫu hứng với rất nhiều giải pháp, tưởng rằng sáng kiến.

Gốc gác của lời giải là muốn thụ hưởng sự tiện lợi của hạ tầng hiện đại, dịch vụ công cộng thuận lợi thì phải đóng góp. Hạ tầng tốt và dịch vụ công cộng tiện lợi làm giá nhà đất tăng lên. Vậy cứ đánh thuế theo giá trị nhà đất để lấy tiền phát triển hạ tầng và dịch vụ công cộng là đúng đắn. Chẳng phải ngẫu hứng gì thêm trong kiếm tìm giải pháp.

* Như vậy, chính sách đã không góp phần điều tiết thị trường?

– Chính sách thuế trước hết phải góp phần điều chỉnh được thị trường bất động sản hoạt động minh bạch, phát triển bền vững và điều chỉnh quá trình phát triển đô thị chứ không phải chỉ tính mỗi việc đóng góp vào ngân sách nhà nước bao nhiêu tiền mỗi năm. Để làm được điều đó trong cơ chế thị trường, trước hết là công cụ thuế, sau đó mới đến công cụ quy hoạch và công cụ hành chính.

Đây là một điểm mà các nước khác đã thừa kinh nghiệm. Nước ta cũng có nói tới nhưng thực tế thu của ta không “động chạm” được vào chức năng điều tiết. Chúng ta luôn lấy lý do thu nhập của dân còn thấp nên khó tăng tỉ suất thuế nhà đất. Thu nhập thấp chủ yếu tại khu vực nông thôn và miền núi, vậy hãy miễn thuế nhà đất cho khu vực nông thôn (kém phát triển) và miền núi. Khu vực đô thị nhiều tiện lợi và hấp dẫn phải thu ở mức cao, tương xứng với giá trị nhà đất tại đó. Đó cũng là lẽ công bằng cần xác lập.

* Vậy theo ông, cách đánh thuế như thế nào để hạn chế đầu cơ?

– Hiện nay thuế liên quan tới nhà đất có hai loại chính: một là thuế thu nhập từ chuyển quyền, tức là thuế trên các giao dịch bất động sản; hai là thuế đánh vào việc sử dụng bất động sản. Việc đánh thuế đặc biệt cao vào các bất động sản không được sử dụng.

Thuế chuyển quyền nay đã chuyển sang thuế thu nhập từ chuyển quyền với hi vọng đạt được sự công bằng hơn về thu nhập, điều chỉnh hợp lý hơn đối với trường hợp giá trị đất tăng lên đột biến khi Nhà nước mở đường to hơn. Thực tế thuế thu nhập từ chuyển quyền không được áp dụng mà vẫn thu theo mức 2% giá trị bất động sản vì lý do không tính được giá trị thu nhập.

Sự tiến bộ mới đạt được trên giấy. Để chống đầu cơ, sắc thuế này có thể định thuế suất theo khoảng thời gian từ lúc mua tới lúc bán. Về bản chất, thuế này không có ý nghĩa điều tiết nhiều. Đánh ở mức cao sẽ làm tăng giao dịch không chính thức, tăng rủi ro trong giao dịch. Chúng ta nên tập trung vào thuế nhà đất, đừng quan tâm nhiều tới thuế về chuyển quyền.

Điều tôi muốn nói là đánh thuế cao hơn đối với nhà đất có mục tiêu chính là tạo nguồn tài chính để phát triển hạ tầng đô thị và dịch vụ công cộng, sau đó mới là mục tiêu làm giảm đầu cơ nhà đất.

* Theo ông, VN nên xúc tiến đánh thuế nhà? Ông có nghĩ rằng người dân sẽ đồng thuận việc này khi đã có quá nhiều loại phí, lệ phí và thuế?

– Đúng vậy. Nhà luôn có người ở, có người ở là phải sử dụng hạ tầng và dịch vụ công cộng. Nếu chỉ đánh vào sử dụng đất thì mới thể hiện được yếu tố sử dụng tài nguyên vốn là của toàn dân. Đánh vào nhà mới là tạo nguồn tài chính cho phát triển hạ tầng khu dân cư và dịch vụ công cộng. Hơn nữa, đánh thuế nhà còn là công cụ để điều chỉnh phân bố dân cư trong quá trình đô thị hóa. Những người ở trung tâm Hà Nội phải chịu thuế cao hơn vì hạ tầng thuận tiện, mở cửa sổ ra là có thể ngắm được pháo hoa, phim “bom tấn” có thể được xem ngay trong ngày phát hành…

Chính sách phải nhận được sự đồng thuận của người dân mới thực hiện được. Điều quan trọng là tính hợp lý của thuế nhà. Đã hợp lý thì phải làm. Còn nhiều loại phí, lệ phí, thuế khác mà không hợp lý thì loại bỏ. Tôi nhấn mạnh lại là chỉ tập trung đánh thuế nhà tại đô thị, có thể miễn thuế nhà tại nông thôn và miền núi. Thậm chí thuế nhà chỉ cần tập trung vào các đô thị lớn có nhu cầu phát triển, có thể miễn cho cả các đô thị kém phát triển. Bên cạnh đó, thuế nhà có thể đánh đặc biệt cao vào nhà bỏ hoang như nhiều nước khác đã làm.

Chính phủ bỏ khung giá đất

* Về một trong những nguyên nhân gây thất thoát ngân sách, thiếu vốn đầu tư hạ tầng, Bộ Tài chính cho rằng phải nâng giá đất tính thuế sát với giá thị trường. Ông bình luận như thế nào về điều này?

– Điều này là quá đúng, đáng lẽ phải nâng khung giá đất của Chính phủ và bảng giá đất của UBND cấp tỉnh lên ngang mức thị trường từ lâu rồi. Để quá thấp như hiện nay làm thất thu ngân sách. Như giá đất do UBND thành phố Hà Nội hay TP.HCM áp dụng ở những khu vực trung tâm chỉ bằng 10% giá thị trường. Ai cũng thấy rõ điều này.

Trung bình giá đất nhà nước ở các đô thị lớn chỉ bằng 40% giá đất thị trường. Vậy cứ tính theo tỉ suất thuế hiện hành thì ngân sách từ thuế đã bị mất 60%. Biết rõ như vậy nhưng các địa phương vẫn để giá đất của Nhà nước thấp lè tè như thế, vì cái gì cũng “khó hiểu” và pháp luật không được thực thi nhưng chẳng ai bị làm sao cả.

* Để đảm bảo công bằng phải nâng bảng giá đất lên, thưa ông?

– Như hiện nay, UBND các thành phố lớn đều nói rằng khung giá của Chính phủ chỉ vậy nên họ không thể nâng cao hơn. Vậy là họ đang đẩy trách nhiệm cho Bộ Tài nguyên – môi trường việc làm thất thu ngân sách. Tôi đồng tình với việc Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên – môi trường đề xuất bỏ khung giá đất của Chính phủ.

Chính phủ chỉ quy định phương pháp xác định giá đất để UBND cấp tỉnh ban hành bảng giá đất tại địa phương. Trong trường hợp bảng giá không sát giá thị trường thì UBND chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc này.

* Xin cảm ơn ông!

LÊ THANH thực hiện

Posted in Kinh tế đô thị, Nhà ở đô thị | Leave a comment