Tính bền vững của mô hình nông thôn mới


 

SGTT.VN – Chúng ta đã tiến hành công cuộc đô thị hoá và công nghiệp hoá trên phạm vi cả nước được gần 30 năm. Đó là một tiến trình tất yếu, nhưng tiến trình này cũng mang lại một thách thức lớn cho “tam nông” trong bối cảnh mà đất nông nghiệp bị thu hẹp, lao động nông nghiệp ngày càng dôi dư, trình độ và kỹ thuật canh tác vẫn còn lạc hậu.

 

Những người tạo dựng vị thế cường quốc xuất khẩu gạo cho Việt Nam vẫn sống nghèo. Ảnh: Lê Quang Nhật

 

Do vậy mà, dù muốn hay không chúng ta phải tiến hành đổi mới nông thôn Việt Nam. Lẽ ra tiến trình này được thực hiện song hành với tiến trình công nghiệp hoá, đô thị hoá từ nhiều chục năm trước, đến nay đất nước ta mới tiến hành là đã có phần muộn. Thực tế là đã có rất nhiều hệ quả không mong muốn đang diễn ra ở nông thôn do sự chậm trễ này.

Ngày 9.6.2011 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chính thức phát động thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” với mục tiêu đến năm 2015 cả nước có 20% số xã, đến năm 2020 có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới theo 19 bộ tiêu chí. Trên tinh thần như thế, ngày 19.6 vừa qua TP.HCM cũng tiến hành phát động thi đua và triển khai chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020. Chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 sẽ thực hiện ở toàn bộ 58 xã thuộc năm huyện ngoại thành. Theo đó, từ 2015 – 2020, toàn bộ 100% số xã của thành phố đạt chuẩn nông thôn mới. Để thực hiện chương trình này, thành phố sẽ đầu tư tổng nguồn vốn 17.578,8 tỉ đồng, trung bình đầu tư cho mỗi xã 338,1 tỉ đồng.

Để cho chương trình này trở thành hiện thực không dừng lại “phong trào” và nặng về phô diễn hình thức thì điều quan trọng bậc nhất là việc xây dựng nông thôn mới phải mang tính bền vững lâu dài.

Thật ra việc xây dựng nông thôn mới không phải là điều gì mới mẻ ở Việt Nam. Đó là những chương trình “hợp tác xã nông nghiệp mới”, “hợp tác xã nông nghiệp cao cấp”, “hợp tác xã nông nghiệp tiên tiến”, “cánh đồng năm tấn”… được phát động rầm rộ nhưng chỉ sau một thời gian bị xẹp và rơi vào quên lãng. Nguyên nhân thất bại là ý chí hình thành các chương trình này được đưa từ bên ngoài đưa vào và bên trên đưa xuống chứ không phải từ nhu cầu thực của người dân. Thật ra việc dựng lên vài chục xã nông nghiệp mới đáp ứng đầy đủ tất cả 19 tiêu chí trong thời gian ngắn không phải là khó, chỉ cần Chính phủ đầu tư tập trung, quy mô lớn trong vài tháng là xong các hạng mục như điện, đường, trường, trạm, nhà văn hoá, bưu điện, khu xử lý rác thải tập trung… đồng thời, thoả mãn đầy đủ năm nhóm tiêu chí về môi trường, văn hoá – giáo dục, kinh tế, y tế… Nhưng vấn đề đặt ra là việc duy trì mô hình đó như thế nào? Nó tồn tại được trong bao lâu? Và ai là người tiếp tục cuộc chơi? Có một chuyện mà những người ở độ tuổi 50 đều biết là vào những năm 77 – 80 của thế kỷ trước, cả miền Bắc tập trung đầu tư bao cấp vô cùng lớn cho việc dựng lên một vài “mô hình xã nông nghiệp kiểu mẫu” như Định Công của Thanh Hoá, Đan Phượng của Hà Tây để làm gương cho cả nước học tập. Vào thời ấy chủ nhiệm hợp tác xã đi xe con, người dân được mắc loa phóng thanh đến từng nhà, đường làng lát gạch rộng thênh thang, người dân không thiếu gạo ăn là ghê gớm lắm nhưng rồi chỉ duy trì được vài năm là thất bại. Các mô hình này đều tan rã khi không còn “bầu sữa” từ Nhà nước, đặc biệt là không xuất phát từ chính nhu cầu của nông dân và xây dựng bằng nội lực của chính họ. Trong cuộc vận động này Nhà nước chỉ nên đóng các vai trò sau đây:

Thời thế thay đổi, nông thôn chắc chắn phải đổi mới nhưng đổi mới sao cho bền vững, hồn làng vẫn còn, thanh niên vẫn còn muốn gắn bó với nông thôn, làng quê vẫn còn là nơi đi về tìm chốn bình yên của người thị thành.

• Là người định hướng, chỉ dẫn cho nông dân trong quá trình sản xuất, phát triển kinh tế hàng hóa, quy hoạch kinh tế – xã hội, quy hoạch không gian…

• Là người tạo cơ chế, ban hành chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho nông thôn phát triển trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới.

• Là người điều phối nguồn lực giữa các vùng miền, giữa các khu vực kinh tế và giữa quốc nội với quốc ngoại.

• Là người huấn luyện, chuyển giao các công nghệ kỹ thuật mới có hiệu quả về giống, thuốc trừ sâu, kỹ thuật canh tác, máy móc…

• Là người cung cấp, đào tạo, huấn luyện cán bộ ở các lĩnh vực khác nhau.

• Là người cung cấp ban đầu vốn, vật liệu xây dựng, kỹ thuật để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện, chợ…) và cơ sở hạ tầng cho sản xuất.

Sau giai đoạn xây dựng nền tảng cho “nông thôn mới” này thì nhiệm vụ quan trọng tiếp theo là làm sao bộ máy quản lý nông thôn và người nông dân tự mình biết cách duy trì và nâng cao những thành quả đã đạt được. Mọi sự tác động từ bên ngoài chỉ nên là “cú hích” chứ nhất quyết không phải làm thay. Một việc nữa cũng cần nói đến là việc xây dựng bộ tiêu chí với 19 điểm là cần thiết, nhưng không nên quá cứng nhắc mà tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng, miền khác nhau. Một xã có thể không đạt được 19 tiêu chí nhưng chưa hẳn là xã đó nghèo, chất lượng sống thấp. Rất có thể có xã đạt được cả 19 tiêu chí nhưng tiêu chí nào cũng ở mức trung bình, không tạo ra được sự thay đổi nào đáng kề về chất lượng sống. Nên chăng mỗi khu vực nên tìm ra một vài chương trình đột phá tạo sự thay đổi về chất của một vài tiêu chí quan trọng nhất để từ đó kéo theo sự chuyển động của các tiêu chí khác. Bộ tiêu chí này xây dựng cho xã thuần nông trong trạng thái “tĩnh” do vậy mà có những điểm không phù hợp với những xã trong trạng thái “động” ở khu vực ngoại thành các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM. Chẳng hạn, ở ngoại thành TP.HCM có rất nhiều tiêu chí là không cần thiết và có nhiều tiêu chí đã hoàn thành từ nhiều năm trước, nhưng lại có những tiêu chí cần thiết lại không thấy xuất hiện. Một ví dụ điển hình là có không ít xã ở ngoại thành TP.HCM, nếu đo lường thì có thể đạt được 13, 15 tiêu chí nhưng không biết nó có còn là xã nữa hay không trong khi mà họ có đất nông nghiệp nhưng không canh tác, về hình thái cư trú cũng vậy. Lúc trước nhà ở của họ ở trong các vườn trầu, cau xanh ngát trông rất “nông thôn”, nhưng nay trầu hết, cau không còn, nhà truyền thống bỏ đi thay vào là nhà hình ống trồi ra mặt đường tạo ra hình thái “làng không ra làng, phố không ra phố”.

TS NGUYỄN MINH HOÀ

This entry was posted in PGS.TS. Nguyễn Minh Hòa, Xã hội học nông thôn, Xã hội học và các vấn đề xã hội. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s