NHỮNG PHẢN TƯ CHUNG QUANH KHÁI NIỆM QUY HOẠCH


Giáo sư Trương Quang Thao

Bài viết cho “Diễn đàn Quy hoạch đô thị nông thôn ” theo chủ đề “QUY HOẠCH XÂY DỰNG TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ XU HƯỚNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở V.N” – Hải Phòng 11/2007

“…Với tư cách nhà quy hoạch, chúng ta không thể né tránh xã hội chúng ta. Các nhà viết tiểu thuyết và các hoạ sĩ đều tự do tưởng tượng nên thế giới không tưởng của mình hoặc sử dụng sự phóng túng nghệ sĩ để thao tác trên các chủ đề của họ. Các nhà khoa hoc cơ bản có thể bất chấp các điều kiện chính trị và xã hội trong khi làm việc với các biến số chính xác của các lĩnh vực tri thức của họ. Bởi vì quy hoạch về cơ bản là một quá trình xã hội. Chúng ta cứ phải trở đi trở lại để xác định vai trò của chúng ta và phải quy định rõ các sản phẩm của chúng ta trong ngã cảnh của một môi trường xã hội phức tạp, thay đổi và thường là mập mờ. . .” – David GOLSCHALK

[Planning in America : Learning from Turbulence – Quy hoạch ở Hoa kỳ: Bài hoc từ sự hỗn loạn), Editor : “American Institute of Planners”, Washington D.C.,1974]

I. Vài lời mở đầu

Chủ đề mà quý Viện nêu ra cho hội thảo theo chúng tôi là hết sức quan trọng. Bởi vì từ sau khi Đảng lãnh đạo chủ trương đổi mới vào cuối những năm 80 thế kỷ trước, chúng ta đã chuẩn bị hội nhập với thế giới và nay thì đã bước vào dòng chảy ấy một năm rồi, song hệ thống quy hoạch đô thị thì chưa, thậm chí theo tôi còn chưa chuẩn bị nữa là khác. Sở dĩ như vậy là vì các nhà quy hoạch của chúng ta vẫn tiếp tục nhận thức, thực hành quy hoạch và quản lý sự phát triển đô thị theo mô thức của thời kinh tế bao cấp, do các kiến trúc sư làm bá chủ với sự khép kín mọi hoạt động trong vòng kiềm tỏa của cái gọi là “sáng tác kiến trúc” tách rời với thực tiển xã hội và với dòng chảy mới của tư duy triết luận về quy hoạch đô thị trên thế giới. Đô thị đối với họ là đối tượng nghiên cứu của các nhà kinh tế, các nhà địa lý, các nhà xã hội học và nhân học, sinh thái học và chính trị học, luật học và tâm lý học chiều sâu, các khoa học kỹ thuật và khoa học môi trường. Trong khi đó thì sau năm 1986, thế giới cũng đã tới và chia xẻ với chúng ta thông qua các lớp học mà các cơ quan của Liên Hiệp Quốc thuê các thầy giáo ở các trường đại học nước ngoài tới giảng cho chúng ta thông qua các chương trình VIE và liên tục mở những lớp học tương tự như ở các nước khác. Nhưng câu hỏi đặt ra là, tại sao đã hai mươi năm chúng ta luôn nhận được sự viện trợ về mặt tri thức mới ấy của quốc tế ấy mà nền “quy hoạch đô thị” của chúng ta vẫn dậm chân tại chỗ ?. Tôi đã tham dự hai lớp học như thế va tôi rút ra được kết luận: những học viên phần lớn là kiến trúc sư trẻ được học quy hoạch đô thị từ các thầy giáo vốn là học trò của các tiến sĩ và tiến sĩ khoa học từng đỗ đạt ở các nước xã hội chủ nghĩa thời nảo thời nao và đã từng là giáo sư, phó giáo sư, nhà giáo nhân dân hoặc giữ các chức vụ từ trưởng phó phòng, chủ nhiệm hoặc phó chủ nhiệm ở các bộ môn ở các trường kiến trúc, các viện trưởng, viện phó, vụ trưởng, vụ phó và thậm chí cả thứ trưởng nữa …..đều không bao giờ tham dự. Các kiến trúc sư trẻ học xong về lại tiếp tục làm việc như thường lệ với những công việc quen thuộc như quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết, quy hoạch cây xanh, quy hoạch cải tạo do các thủ trưởng, thủ phó đơn vị giao cho. Còn những tập tài liệu dày được phát tại các lớp học như “quy hoạch chiến lược” (strategic planning), quy hoạch sách lược (policy planning), quy hoạch đầu tư (investment planning), quy hoạch tham dự (participative planning) ….thì cứ mang về để đó…Cũng có những đề tài cụ thể liên quan đến các đề tài về tác động của đô thị hóa lên xã hội của các nước đang phát triển như vấn đề người nghèo, vấn đề đất đai ở các đô thị Châu A, vấn đề cộng đồng tham gia vào tiến trình quy hoạch v.v…và v.v… thì thường tổ chức nghiên cứu theo kiểu phong trào thi đua, có báo cáo kết quả, có tư liệu in ấn đẹp đẽ, nhiều khi rất hoành tráng với sự tham dự của chuyên gia nước ngoài, nhưng rồi kết thúc đợt nghiên cứu thì cũng là lúc mọi thứ rơi vào sự im lặng. Và còn nhiều chuyện nữa, nhưng xin được chuyển sang tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng ấy.

2. Nguyên nhân?

Muốn giải quyết các vấn đề theo tôi cần phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân của tình hình đó, bằng không nếu cứ bám lấy cách làm việc lâu nay, vội vã mỗi người nêu lên một vài hiện tượng cá biệt rồi đề xuất biện pháp cũng xuất phát từ những ý tưởng nhất thời, rồi thì hội thảo xong với kết luận “thành công rực rỡ”, “thành công đẹp đẽ” và mọi việc đâu lại hoàn đấy.

Như chúng tôi trình bày ở phần đầu chú thích số 2 (trang 25,26,27) từ ngữ “urbanisme” xuất hiện từ năm 1911, và mãi tới năm 1925 LE CORBUSIER mới ra tập sách “Urbanisme” và năm 1930 mới có định nghĩa chính thức của ông về nó (điểm 2), nhưng trường phá“Kiến trúc đô thị” (urbanisme) đã xuất hiện “hoành tráng” vào năm 1914, khi Tony GARNIERtổ chức một cuộc triển lãm kiến trúc đồ sộ về mô hình “Thành phố công nghiệp” tại lâu đài Médicis ở Roma nhằm tìm kiếm giải Khôi nguyên La Mã. Hội đồng giám khảo thủ cựu của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Pháp đã bác bỏ đề án ấy, tuy ai cũng công nhận tính mới mẻ và thời thượng của chủ đề. Cuối cùng rồi Tony GARNIER cũng nhận được giải Khôi nguyên nhờ một đề án về đề tài khác, nhưng tốt nghiệp xong ông lại cho công bố ngay đề án “Thành phố công nghiệp”. Thế rồi do cuộc chiến tranh thế giới 1914-1918 nên mọi việc bị xếp xó …và do sự nổi danh sau đó của mô hình “Thành phố – vườn” (Garden-city) của Ebenezer HOWARD nên mãi tới năm 1930 LE CORBUSIER mới trình làng mô hình “Thànhphố tươi sáng” (La ville radieuse) (3) mà tính chất công năng chủ nghĩa của nó đã được GARNIER phát kiến từ hơn 15 năm trước trong mô hình “Thành phố công nghiệp”. Tuy vậy mô hình “Thành phố tươi sáng” là đỉnh cao của tư duy đô thị học vào thời kỳ nằm giữa haicuộc chiến tranh thế giới, nên chỉ ba năm sau đó những luận cứ chủ chốt của “urbanisme” (4) trong triết thuyết của “Thành phố tươi sáng” lại hiện hình trong cái gọi là “Công ước Athènes” (Charte d’Athènes), một dạng “biên bản” của đại hội lần thứ IV của tổ chức CIAM (Congrès Internationaux d’Architecture Moderne – Các Đại hội Kiến trúc Hiện đại) (5) do chính LE CORBUSIER tổ chức và thống lĩnh. Những ý niệm đô thị học và kiến trúc học của LE CORBUSIER được biểu thị bằng một ngôn ngữ báo chí đầy sức thuyết phục với mức độ diễn cảm cao và hùng hồn nữa là khác. Do vậy dù ông có ít công trình được xây dựng hơn, song so với Frank Lloyd WRIGHT (Mỹ) Watler GROPIUS và Mies van der ROHE (Đức, hai người sau này đã di cư sang Mỹ khi HITLER lên cầm quyền và tạo lập nên trường phái Chicago của Kiến trúc Hiện đại ở Mỹ), tiếng tăm của ông nổi hơn bất cứ ai trong số các nhà tiên phong của trào lưu Hiện đại chủ nghĩa. Thế nhưng chủ thuyết “Kiến trúc công năng” (P: architecture fonctionnelle) và “đô thị công năng” (P: ville fonctionnelle)với chủ trương xây dựng một thứ chủ nghĩa toàn xưng (universalism) trong kiến trúc và đô thị ở khắp nơi trên địa cầu dần dần bị phản đối từ trong lòng của tổ chức CIAM, bằng chứng là tại đại hội lần thứ X tổ chức tại Hà Lan năm 1958 LE CORBUSIER đã không được mời tham dự.

4. Quy hoạch là gì?

Nếu ta dở từ điển Oxford English Dictionary hay The American Webster ta sẽ thấy có ba nghĩa như sau đối với danh từ “plan” và động từ “to plan” : 1) Đó là hình chiếu (thường là lên mặt phẳng nằm ngang) của một vật thể có hình khối (physical object – còn gọi là vật thể không gian) để có được bình đồ hay mặt bằng; 2) đó là sự sắp xếp các phần việc để đạtđược một mục tiêu nào đó : dự định, dự kiến, dự trù, kế hoạch, phương kế. Chẳng hạn như trong “dự kiến” (nghĩa 2) đi thăm thú thành phố Hà Nội có phần việc tìm cho được bản đồ se“mặt bằng phố xá” Hà Nội (nghĩa 1); 3) Thế nhưng còn có một nghĩa thứ ba ở dạng “dự án”, “đề án”, “phương án” làm một ngôi nhà chẳng hạn thì cả 2 nghĩa nói trên cùng phối hợp làm lờ mờ định nghĩa : ở đây vừa có nghĩa của một bản vẽ thiết kế không gian như chúng ta có ý định xây cất, vừa có ý nghĩa của một bản định hướng cho việc thực hiện dự định xây nhà của chúng ta.

Cho nên Peter HALL đã viết như sau: động từ “to plan”, các danh từ “planning” và “planner” phiên xuất từ đấy trên thực tế chỉ có nhóm nghĩa chung thứ hai : các nghĩa ấy không quy về nghệ thuật đồ họa mặt bằng không gian hay bản thiết kế lên giấy vẽ. Chúng có nghĩa hoặc là “sắp xếp cácbộ phận của“ (to arrange the parts of) hoặc “thực hiện hành động mong muốn của” (to realize achievement of) hoặc lờ mờ hơn là “có ý định” (to intend). Nghĩa chung nhất của từ “planning” bao hàm cả hai yếu tố đầu của các yếu tố ấy : “quy hoạch có liên quan tới việc hoàn thành một cách có chủ tâm một mục tiêu nào đó và điều đó được tiến hành bằng cách tập hợp các hành động lại thành một chuỗi có trật tự của các hành động. Có từ điển định nghĩa quy hoạch bằng cách quy kết nó về cái mà nó làm, từ điển khác lại định nghĩa quy hoạch bằng cách quy kết nó về việc nó phải làm như thế nào” (9).

Hầu như mọi người đều nhận thức được rằng quy hoạch có cái nghĩa chung như vừa nói, song vẫn còn có người cứ lấn bấn với ý niệm về dự án (plan) như là sự biểu hiện hay thiết kế không gian. Quả đúng là có nhiều loại hình quy hoạch phải bao gồm cả việc chuẩn bị một bản thiết kế như vậy hoặc sẽ có lợi hơn từ việc đó: quy hoạch thường được vận dụng để sản xuất các vật thể không gian như ôtô, máy bay, nhà cửa hoặc cả một thị trấn, và trong trường hợp ấy thì các bản vẽ cho sản phẩm mong muốn đúng là cần thiết. Tuy thế rất nhiều những loại hình quy hoạch, dù chúng cần nhiều sơ đồ, ký hiệu, biểu đồ vẽ lên giấy, song lại không kéo theo việc sản xuất ra một bản vẽ biểu thị cho toàn bộ thực thể cần “chế tác” ra.

Ngày nay, quy hoạch được vận dụng vào rất nhiều các hoạt động của con người, hầu như quy hoạch cần thiết cho mọi hoạt động: chẳng hạn như người ta quy hoạch để làm các cuộc chiến tranh; các nhà ngoại giao làm các quy hoạch bảo vệ hòa bình, các chính phủ soạn thảo quy hoạch cải tổ giáo dục, cải tổ hành chính, phát triển dân số, phát triển nhà ở. Việc đưa một kiểu mẫu ôtô con vào sản xuất được trù liệu hàng chục năm trời trước đó.

Để tóm tắt lại, có thể phát biểu thế này: “Quy hoạch là một hoạt động nhằm tạo ra một chuỗi có trật tự các hành động dẫn dắt tới sự thực hiện một hay nhiều mục tiêu đã dự kiến. Các kỹ thuật chính của quy hoạch là các văn bản tường trình (written statements) được bổ sung theo nhu cầu những dự báo thống kê, những công thức toán, những đánh giá số lượng và những biểu bảng minh họa cho các quan hệ giữa các bộ phận khác nhau của dư án. Nó có thể, nhưng không nhất thiết phải bao gồm các bản vẽ không gian chính xác của các đối tượng” (10).

5. Vận dụng quy hoạch vào đô thị và vùng lãnh thổ

Sự vận dụng quy hoạch vào giải quyết các vấn đề phát triển của đô thị – quy hoạch đô thị (A:town planning; city planning, urban planning) hay của vùng lãnh thổ) (A:regional planning, territorial planning). Và loại hình quy hoạch đặc thù ấy quy dẫn về sự quy hoạch với thành tố không gian hay địa lý (spatial or geographical component) trong mục tiêu chung là cung ứng một cấu trúc không gian của các hoạt động (hoặc của việc sử dụng đất) [spatial structure of activities (or of land uses)] mà về nhiều phương diện là tốt hơn trường hợp không có bất cứ quy hoạch nào. Một sự quy hoạch như vậy được trường phái Anh-Mỹ trong quy hoạch đô thị gọi là physical planning (quy hoạch vật thể) nhưng chính xác hơn và trung hòa hơn là spatial planning (quy hoạch không gian).

Như vậy, điểm mấu chốt của loại hình quy hoạch này, dù cho quy mô của nó thế nào, hay chuổi các hành động ra sao, thì nó vẫn cứ mang tính không gian. Điều đó liên quan tới sự tác động của không gian (spatial impact) lên các vấn đề khác nhau cũng như tới sự điều phối không gian (spatial coordination) của các chính sách (policies). Nhà quy hoạch kinh tế (economic planners) chẳng hạn, đề cập tới sự tiến bộ của nền kinh tế nên họ tìm kiếm một cấu trúc kinh tế ở dạng các ngành công nghiệp và công ăn việc làm, một sự tổ hợp các yếu tố sản xuất sản sinh ra các dòng chảy hàng hóa và dịch vụ sản xuất cũng như các vấn đề về trao đổi hàng hóa. Nhà quy hoạch kinh tế địa phương cũng thế song luôn đứng trên quan điểm của tác động không gian đặc thù của cự ly và khoảng cách địa lý lên các hiện tượng ấy.

Cũng thế, các nhà quy hoạch xã hội (social planners) sẽ quan tâm tới các nhu cầu của cá nhân và nhóm xã hội, tới cấu trúc xã hội của dân cư, tới sự di động của họ có liên quan tới công ăn việc làm, tới ảnh hưởng của lối sống lên mô thức nhà ở, v.v… và v.v…

Qua các ví dụ ấy, chúng ta thấy mối quan hệ giữa quy hoạch đô thị và quy hoạch vùng với các loại hình quy hoạch đặt thù là giống với mối quan hệ giữa địa lý học, như một bộ môn mang tính chất hàn lâm, với các khoa học xã hội liên đới. Là bởi vì địa lí học có một bộ mặt đa dạng, mà mỗi bình diện ấy lại nhấn mạnh tới các quan hệ không gian lên từng bộ môn của các khoa học xã hội. Chẳng hạn như địa lý kinh tế (economic geography) phân tích các ảnh hưởng của cự ly và khoảng cách địa lý lên các cơ chế của sản xuất, tiêu thụ và trao đổi; địa lý xã hội (social geography) khảo sát các tác động không gian lên mô thức của quan hệ xã hội v.v…Từ đó người ta lập luận rằng quy hoạch không gian, tức quy hoạch đô thị và quy hoạch vùng , về cơ bản là địa lý nhân văn (human geography) ở các bình diện ấy, và nó khai thác và vận dụng vào vấn đề ra các nhiệm vụ cho hành động nhằm đạt tới các mục tiêu của quy hoạch không gian.

Rất nhiều thầy giáo ở các trường dạy quy hoạch tại cả nước Anh cũng lên tiếng phản bác các điều vừa nói ở trên. Họ lập luận rằng quy hoạch như họ đang dạy nhất thiết phải đưa các môn học không nằm trong chương trình giảng dạy của địa lý học. Ví dụ như luật lệ có liên quan tới đất đai, môn xây dựng dân dụng (civil engineering) và thiết kế đô thị (civic design, urban design) nữa. Thế nhưng ngay trong các trường quy hoạch và cả ở ngoài nữa nhiều chuyên gia cho rằng không phải tất cả các môn ấy đều cần cho ngành quy hoạch. Điều đúng đắn là khối lượng chính của các khoa học xã hội đều được giảng dạy như là những bộ phận của địa lý nhân văn: kinh tế học (economics), xã hội học (sociology), chính trị học (politics) và tâm lý học (psychology) cần phải tạo nên cốt lõi của ngành học quy hoạch đô thị và quy hoạch vùng. Peter HALL còn cho rằng “ một yếu tố khác khá quan trọng trong giáo dục quy hoạch nhưng không nằm trong khối lượng của các khoa học xã hôi: đó là sự khảo cứu về phương pháp quy hoạch (planning methods), tức là cách thức con người đảm trách công việc kiểm soát đối với môi trường không gian và môi trường xã hội và vận hành cả hai nhằm phục vụ cho các mục tiêu họ xác định nên. Theo sự phân biệt áy thì phương pháp quy hoạch sẽ phải là tri thức chung đối với sự giáo dục mọi loại hình các nhà quy hoạch – dù đó là nhà quy hoạch giáo dục (educational planners), nhà quy hoạch công nghiệp (industrial planners), nhà quy hoạch quân sự (military planners) và các quy hoạch khác (11). Vậy là để có được “ tri thức về quy hoạch đô thị và vùng cần có một chương trình đào tạo cơ sở trên hai khu vực sau :

1.Địa lý học xã hội và nhân văn với các bộ môn khoa học xã hội liên quan : kinh tế học, xã hội học, tâm lý học, chính trị học.

2. Phương pháp quy hoạch.

6. Quy hoạch là một hoạt động

Cốt lõi của việc giáo dục quy hoạch phải là phương pháp quy hoạch. Vậy nó là cái gì thế ? Đó là một vấn đề mấu chốt và ở Anh, Mỹ, Nhật tại các trường quy hoạch người ta tranh luận dai dẳng về nó. Thế nhưng một thời gian dài người ta lại né tránh nó bởi người ta cho rằng đào tạo quy hoạch đuợc nhìn nhận như là đào tạo ra những người làm nên các dự án không gian (như ở trường phái Pháp – Nga và như ở ta hiện nay). Các thầy giáo đầu tiên nêu vấn đề này ra không phải là các thầy giáo dạy quy hoạch không gian mà là các thầy giáo dạy quy hoạch công nghiệp (industrial planning) và quy hoạch hoạt động của liên hiệp công ty (corporate planning). Đó là vào khoảng 1945 khi mà giáo dục kỹ năng quản lý chỉ xoáy quanh các kỹ năng hẹp của kỹ thuật học (engineering) và kiểm toán (accounting), nhằm mục đích nhận được hiệu quả tối đa trong hoạt động của nhà máy (ở nghĩa của kỹ thuật học và kế toán học) chứ không phải ở khâu ra quyết định (decision-taking) trong những tình thế phức hợp. Và trong đào tạo các nhà quản lý có sự thay đổi lớn lao ở hai điểm: một là sự hình thành bộ môn khoa học về ra quyết định (science of decision making) vốn chiết ly các khái niệm từ triết học và chính trị học và hai là, người ta khai thác tư duy từ các bộ môn khoa học xã hội như kinh tế học, xã hội học và tâm lý học.

Việc đào tạo ra những người làm công việc quản lý mỗi ngày một vươn tới phía trước bởi đối tượng để quản lý ngày càng phức tạp và như vậy cần phải có những hệ thống kiểm soát (sự hoạt động của các đối tượng ấy) tinh vi hơn. May thay có một bộ óc kiệt xuất của một nhà tư duy lỗi lạc, Norbert WIENER, đến từ Harvard: quyển sách Human use of human Beings ra mắt vào năm 1950 đặt nền tảng cho sự ra đời của điều khiển học (cybernetics) mà ông định nghĩa bằng đầu đề của một quyển sách khác xuất bản trước đó 2 năm như là “Sự kiểm soát và giao tế trong (thế giới) động vật và (thế giới) máy móc (Control and comunication in the Animal and the Machine). Theo WIENER, thì thế giới động vật, và thế giới loài người nói riêng, từ lâu đã sở hữu những cơ chế giao tế và kiểm soát vô cùng phức tạp – một thứ cơ chế giống như của các máy computers song ở người thì phức tạp hơn nhiều. Và WIENER đã đề nghị, tại sao chúng ta lại không vận dụng các cơ chế ấy vào sự điều hành và kiểm soát các xã hội con người (human societies).

Và thế là một khoa học mới, khoa học về điều khiển các hệ thống phức hợp ra đời vào cuối những năm 50 của thế kỷ XX và bắt đầu tác động lên công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo về quản lý (management) đặc biệt là quy hoạch (planning).Là bởi vì nếu mọi sự sắp đặt hay tổ chức của con người (human arrangements) có thể dược xem như là hệ thống phức hợp có quan hệ tương hỗ, thì về nguyên tắc là có thể lập những hệ thống kiểm soát tương tự trên máy tính và lúc bấy giờ máy tính có thể được sử dụng để theo dõi (monitor) các diễn biến và áp dụng các hiệu chỉnh cần thiết. Chẳng hạn như để kiểm soát một chuyến bay của con tàu vũ trụ có người trên khoang bay lên mặt trăng thì phần lớn các hiệu chỉnh đối với con tàu không phải do phi công (vũ trụ) làm lấy mà do hệ thống kiem soát bằng máy tính cực kỳ phức tạp đặt ở trên mặt đất. Hệ thống kiểm soát ấy không có “mắt” để nhìn con tàu và điều khiển mà tiến hành việc ấy bằng cách tiếp nhận thông tin từ con tàu bằng các thiết bị điện tử rồi “trả lời” bằng cách cung cấp thông tin ấy cho các hình mẫu mô phỏng (models) [hay còn gọi là các tái hiện nhân tạo (artificial simulations) ] về hành trình của con tàu vũ trụ trong mối quan hệ với sự chuyển động của trái đất và mặt trăng. Rồi hệ thống đó xử lý thông tin ấy, tính toán các cách kiểm soát phù hợp để vận dụng và tự động vận hành các hiệu chỉnh.

7. Quy hoạch một chuyến du hành lên Mặt trăng dễ hơn một khu đô thị 

Xin lỗi các bạn, đó không phải là “ý tưởng” của chúng tôi mà là của Peter HALL; ông nói thế này: “Nhiều người nghĩ rằng với sự phát triển của các công cụ tính toán cao tốc và siêu tốc sẽ làm cho quy hoạch trở nên nhẹ nhàng hơn bởi có nhiều thứ được “tự động hóa” trong tiến trình làm quy hoạch. Đúng là tự động hóa có tác động làm dịu bớt một số tiến trình nhàm chán như các tính toán chi tiết song điều đó không làm giảm trách nhiệm ra quyết định (responsibility to take decisions).Và cái khó khăn chính là ở chỗ việc điều khiển hóa (cybernation) dễ vận dụng vào trường hợp đưa người lên mặt trăng hơn là trong quy hoạch không gian. (12). Thoạt đầu, điều ấy tưởng như vô nghĩa: có gì phức tạp cho bằng đưa người bay vào vũ trụ. Thế nhưng xin đừng lẫn lộn các mức độ khó khăn. Lên mặt trăng quả là không dễ dàng và đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt các bài toán kỹ thuật phức tạp. Nhưng có hai đặc thù làm cho điều đó trở nên đơn giản hơn: Thứ nhất là mục tiêu được xác định rõ: chỉ có một đích đến là đưa người lên mặt trăng. Thứ hai: các lộ trình cần trải qua mang tính vật lý, chúng đều quy thuộc về các quy luật vật lý học, nghĩa là dễ được tiếp thu, dễ điều tiết … hơn là các quy luật của ứng xử con người (human behaviour). Còn loại hình quy hoạch mà chúng ta đang bàn thì ngược lại, phức tạp hơn nhiều. Thứ nhất các mục tiêu cơ bản thường không được hiểu đúng cách, và thường là nhiều, có khi hàng tá: tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập cho cân bằng ; giảm số lượng người không có công ăn việc làm, tăng cường và điều tiết khu vực kinh tế phi chính quy, giảm ùn tắc giao thông độ di động của người dân, ổn định các trung tâm y tế trong khám chữa bệnh, giảm stress, giải quyết ô nhiễm các dòng sông, tạo lập môi trường giải trí lành mạnh, tăng cường diện tích ở cho người nghèo, cải thiện đời sống đân nghèo… danh mục tưởng không bao giờ hết. Thứ hai, các quá trình cần xử lý đều là các quá trình con người (human processes) hay quá trình xã hội (social processes), nghĩa là rất khó để có thể hiểu rõ, và các quy luật xã hội đứng phía sau các hiện tượng rất khó phát hiện so với các quy luật vật lý học. Ai từng học và làm quen với xã hội học, tâm lý học, nhân học xã hội, kinh tế học đều biết tới các khó khăn ấy. Chúng ta thường phải làm việc với các quy luật của thống kê học chứ không phải với các quy luật chắc chắn của khoa học vật lý.

8. Tiến trình và lộ trình quy hoạch

Như vậy công việc làm quy hoạch ở đây khác hẳn với khái niệm “kiến trúc đô thị” mà chúng ta nói ở trên, chủ yếu do các nhà kiến trúc tiên phong của trào lưu kiến trúc hiện đại đề xướng. Quy hoạch như một tiến trình xã hội (social process) do Patrick GEDDES (1854- 1932), người Scotland, vốn được đào tạo như một nhà sinh học, sáng tạo ra. Ông đã từng lập mộtđài quan sát (outlook tower) ở Edingburg để tìm hiểu về xã hội mà ông gọi là điều tra (survey) để sau đó phân tích(analysis) và khâu cuối cùng là quy hoạch (plan). Chuỗi các hành động của ông là:

Điều tra > Phân tích > Quy hoạch

và ông đã trình bày các quan điểm của ông về tiến trình ấy trong quyển sách, bây giờ đã trở thành kinh điển [ và ông được xem là “ông tổ của các lý luận xã hội tạo nên cơ sở cho Khoa quy hoạch đô thi và nông thôn “(13)] có tên là Cities in Evolution (Đô thị trong quá trình tiến hóa). Song ông không chỉ dừng ở đấy. Sự phân tích quá trình tiến hóa của đô thị đã đưa ông đến nhận xét khá độc đáo, là sự phi tập trung hóa (decentralization) các đô thị lớn ra các khu vực ngoai thị (mà bây giờ người ta còn gọi là hiện tượng ngoại thị hóa – suburbanization) sẽ dẫn tới sự kết dính các đô thị nhỏ thành những kết tụ đô thị (urban agglomerations) mà ông gọi là conurbations (vùng đô thị hóa). Ông cũng là người đưa ra khái niệmworld city (đô thị thế giới) để chỉ những đại đô thị (primate cities) mà tầm quan trọng của chúng về dân số (chung quanh 10 triệu trở lên) kinh tế, văn hóa, kinh doanh, tài chính… vượt ra xa khỏi ranh giới quốc gia và giữ vai trò đầu tàu trong nền kinh tế toàn cầu (14).

Ngày nay, chuỗi các hành động của quy hoạch được điều khiển (cybernated planning) được đặt vào một sơ đồ dòng chảy(flow chart hay flow diagram) như sau:

mục tiêu – thông tin liên tục – hình thành và mô hình hóa các phương án cho tương lai – đánh giá – lựa chọn – theo dõi liên tục (15).

Qua đó, chúng ta thấy chuỗi hành động bắt đầu bằng xác định các mục tiêu cho sự phát triển của khu vực (đô thị hoặc vùng hoặc một bộ phận của đô thị). Chúng ta sẽ thấy rằng đây là công việc tưởng không có gì khó song vô cùng phức tạp, bởi xác định sai mục tiêu là mọi thứ về sau sẽ đi chệch đường, cho nên, cứ phải xác định nhiều lần, quay đi quay lại. Sau đó là cập nhật với thông tin, liên tục theo dõi và thu thập những biến đổi của đối tượng. Tiếp theo là hình thành những giải pháp thay thế dưới dạng các mô hình với các chính sách khác nhau. Sau đó các giải pháp thay thế ấy phải được so sánh, đánh giá so với các chuẩn mực mà các mục tiêu yêu cầu và soạn thảo hệ thống các chính sách kèm theo để lựa chọn rồi tiến hành thực hiện theo phương án được chọn.

Và sơ đồ dòng chảy của tiến trình quy hoạch (đô thị và vùng) đã được ba nhà lý luận hàng đầu của lĩnh vực tri thức về quy hoạch của nước Anh (16) đề cập.

Quan niệm của Brian McLOUGHLIN về tiến trình quy hoạch

Quan niệm của Alan WILSON về tiến trình quy hoạch (Sơ đồ cần được đọc từ dưới lên, tuy vậy sự tương tác lại thường xuyên xảy ra giữa tám cấp độ với nhau)

Với sự trích dẫn ba sơ đồ của tiến trình quy hoạch (đô thị và nông thôn) do ba nhà địa lý Anh đề xuất, chúng tôi muốn dừng bài viết ở đây. Ở phần tiếp theo chúng tôi sẽ trình bày tiếp về tiến trình quy hoạch ấy với sự so sánh cách thức tiếp cận của ba nhà khảo cứu Anh vừa nói. Phần cuối cùng chúng tôi sẽ bàn về mối quan hệ giữa quy hoạch chiến lược (strategy planning) và quy hoạch hành động (action planning) thay thế cho quy hoạch chung (còn gọi là quy hoạch khống chế) và quy hoạch chi tiết của thời bao cấp. Tuy vậy, chúng tôi vẫn muốn nói vài điều gọi là kết thúc bài viết này, bài viết về những suy tư đối với khái niệm quy hoạch.

9. Vài lời sau cùng

Thực ra thì do từ plan trong các ngữ hệ Latin và Anglo – saxon có hai nghĩa gốc: một là mặt bằng, dự án (danh từ) hai là hoạch định, trù liệu, quy hoạch, xếp đặt để tạo ra một trật tự (động từ). Trong tiếng Pháp thì nghĩa sau cùng tương đương với động từ aménager. Và do vậy aménagement urbain (quy hoạch đô thị) có nghĩa là xếp đặt các yếu tố không gian lên mặt bằng lãnh thổ để tạo ta trật tự mong muốn. Đó là chủ trương của LE CORBUSIER và sau đó lan sang Nga, nơi mà danh từ plan sinh ra động từ planirovat’, động từ này có hai nghĩa rõ rệt, một nghĩa là tổ chức, sắp xếp các yếu tố không gian lên mặt bằng đất đai đô thị (planirovka), còn nghĩa thứ hai là hoạch định, trù liệu, lập kế hoạch (planirovanie). Công việc thứ nhất do các kiến trúc sư thực hiện, còn việc thứ hai _ trong đó có quy hoạch kinh tế (ekonomitsexkoe planirovanie), và quy hoạch xã hội (xotxialnoe planirovanie) _ thì đều do các nhà kinh tế đảm nhận.

Như vậy tất cả những người làm quy hoạch đô thị ở Việt Nam học tập ở Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa (trước đây) đều được đào tạo để làm các dự án quy hoạch không gian theo cách mà LE CORBUSIER chủ xướng và được các nhà phê bình đặt cho cái tên là chủ nghĩa dự án (17). Điều đó ăn sâu vào đầu óc chúng ta đến mức chúng ta cứ tưởng như quy hoạch đô thị (urbanisme) của trường phái Pháp – Nga là đương nhiên và là đỉnh cao của đô thị học, nhất là từ những năm 60 – 80 của thế kỷ trước, khi những dự án đô thị lớn mà bây giờ mà người ta gọi là siêu dự án (megaproject) (18). Cho nên khoảng từ những năm 1990 về sau khi các tổ chức của LHQ nhờ chuyên gia của các nước như Thụy Điển, Anh, Canada, Úc… đến Việt Nam để quảng bá phương thức quy hoạch mới của trường phái Anh-Mỹ, và nhất là gần đây, sau năm 2000 khi quyển sách của HALL và PFEIFFER Urban Future 21. A Global Agenda for Twenty-First Century Cities ra đời thì khái niệm phát triển đô thị bền vững (19) đã được “chộp” và biến thành bùa hộ mệnh cho các phương án quy hoạch rất “vị lai chủ nghĩa” theo phong cách quy hoạch thời bao cấp nhưng lại đính viên kim cương giả của “Đô thị bền vững” (20). Chúng tôi cũng đã được đọc hai luận án tiến sĩ, một tên là “… hướng tới mô hình đô thị tương thích” (21), và một nữa tên là “Giải pháp quy hoạch tổ chức không gian đô thị cực lớn theo hướng phát triển bền vững”. Cả hai đều đi tìm mô hình không gian (tức là theo lối “quy hoạch không gian” kiểu cũ, kiểu đi tìm một hình mẫu không gian tổng thể của đô thị nhưng lại cài “bông hoa” mới “phát triển tương thích” và “phát triển bền vững” để trang trí và để nói lên rằng “chúng tôi cũng đang thời thượng đây”. Xin nhắc một lần nữa “quy hoạch không gian” theo phong cách Anh – Mỹ không dính gì tới tổ chức không gian cả mà chủ yếu là hướng sự quản lý đô thị để cho đô thị sẽ phát triển bền vững về mọi mặt (chứ không chỉ có mỗi mặt không gian). Cho nên như Peter HALL nói “sự phát triển đô thị bền vững là một nguyên tắc dễ phát thành những lời chung chung, nhưng lại khó hơn rất nhiều trong việc biến lời nói thành hành động xét về phương diện ra các quyết định hàng ngày” (22). Nguyên tắc ấy đã được nhiều người trích dẫn từ báo cáo Brundtland 1987: “Nhân loại có khả năng làm cho sự phát triển trở nên bền vững – đảm bảo cho sự phát triển thỏa mãn được các yêu cầu của thời hiện đại mà không làm hại tới khả năng của các thế hệ mai sau thỏa mãn các nhu cầu của chính họ.” (23).

Vì thế Peter HALL nhấn mạnh, đó phải là:

“Sự phát triển tập trung vào các lựa chọn và các khả năng nào của nhân dân để tạo ra sự tăng trưởng kinh tế, song phân phối các lợi ích một cách đồng đều, để tái tạo lại môi trường hơn là phá hoại nó để trao quyền cho phụ nữ và nam giới hơn là gạt họ ra ngoài lề” (24).

Như thế với bốn định nghĩa ngắn gọn vừa nêu thì sự phát triển bền vững là những nguyên tắc điều phối sự phát triển của các quốc gia nói chung, và tính chất phát triển bền vững là đa dạng (sustainability is multiple) Và vận dụng vào công tác quản lý sự phát triển của đô thị sao cho sự phát triển ấy bền vững, được Peter HALL nêu thành 7 nguyên lý cơ bản như sau (25):

• “Một nền kinh tế đô thị bền vững: công ăn việc làm và sự khá giả” • “Mộtxãhộiđôthịbềnvững:Liênkếtvàđoànkếtxãhội” • “Nhà ở đô thị bền vững : Nhà ở tươm tất vừa túi tiền mọi người” • “Một môi trường đô thị bền vững : Các hệ sinh thái ổn định”

• “Tiếp xúc đô thị bền vững : Một đô thị nhằm giữ gìn nguồn lực” • “Đời sống đô thị bền vững : Xây dựng đô thị để (có thể) sống được” • “Nền dân chủ đô thị bền vững : Trao quyền cho cộng đồng công dân” (26).

Nghĩa là, bằng khái niệm phát triển đô thị bền vững Peter HALL đã cho chúng ta thấy rằng quy hoạch là công cụ để làm ra các chính sách nhằm quản lý tốt quá trình phát triển của đô thị. Bây giờ xin mời bạn đọc quay lại trang đầu, nơi chúng tôi trích dẫn câu nói của GODSCHALK nhấn mạnh rằng quy hoạch không phải là nghệ thuật, cũng không phải là khoa học mà là một lộ trình xã hội (a social process)

Và lộ trình ấy được phân thành 2 nhánh.

“Một nhánh phân tích chính sách (a policy analysis branch) và nhánh nữa về quản lý (a management branch). Nhánh thứ nhất nhắm vào giai đoạn trước – khi – ra – quyết định. Còn nhánh thứ hai nhắm vào giai đoạn sau – khi ra quyết định. Cho nên quy hoạch chủ yếu đề cập tới sự đánh giá sơ bộ mang tính chất so sánh các mục tiêu và phương tiện, đặc biệt là phương tiện để cung cấp cho các nhà ra quyết định có các phán xét được cân nhắc cẩn thận về tính hữu hiệu đã được ước lượng của các phương án khác nhau. Còn quy hoạch với tư cách là sự quản lý đề cập tới sự thực thi các quyết định bằng cách đặt dấu nhấn lên tính hiệu quả của các phương pháp va các hình thức kiểm soát khác nhau nhằm hoàn thành các mục tiêu đề ra trong bối cảnh rối loạn về mặt tổ chức. Câu trả lời cuối cùng là để bao quát các ý nghĩa đã nói trước đây trong phạm vi của một quan niệm về quy hoạch như một hình thức đối thoại (với) xã hội (social learning) (27) một sự thử nghiệm tự giác với các mục đích và chương trình xã hội nhằm phát hien ra một tương lai mong muốn” (28).

Vậy là theo D.R. GODSCHALK từ Hội các nhà quy hoạch Hoa Kỳ (29) thì quy hoạch là một lộ trình xã hội gồm hai công đoạn phân tích chính sách (trước khi những nhà chính trị ra quyết định) và quản lý sự thực hiện các chính sách ấy (sau khi đã có quyết định) và nguồn cung ứng thông tin cho các hoạt động ấy được rút ra từ sự đối thoại với xã hội. Từ nhận định đó mà quyển sách do GODSCHALK chủ biên đã bàn tới các vấn đề lớn do sự xác nhận định nghĩa mới về quy hoạch như một tiến trình xã hội: Lý thuyết quy hoạch (Planning Theory), lý thuyết của tiến trình quy hoạch (Planning Process Theory), phương pháp luận quy hoạch (Planning Methodology), thực hành quy hoạch (Planning Practice), nghề quy hoạch (Planning Profession), đào tạo quy hoạch (Planning Education).

Và một câu hỏi đặt ra cho tôi, cho anh, cho tất cả chúng ta, cho những ai ít nhiều quan tâm tới quy hoạch là:

LIỆU MỖI NGƯỜI TRONG CHÚNG TA VÀ TẤT CẢ CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ ĐÂY KHI BIẾT RẰNG NỘI HÀM CỦA QUY HOẠCH LÀ NHƯ THẾ NÀY MÀ KHÔNG PHẢI NHƯ THẾ KIA? o

Thành phố HCM, tháng 10/2007.

From: http://dungdothi.wordpress.com/2011/05/18/phantuveqh/

This entry was posted in Qui hoạch đô thị, Văn hóa đô thị, Xã hội học đô thị, Đô thị học. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s