Điểm dừng nào cho đô thị phát triển theo chiều rộng?


LTS: Báo Sài Gòn Tiếp Thị số ra ngày 2.5.2011 có bài viết Đừng chuyển dịch cơ cấu kinh tế bằng mọi giá của nhóm tác giả Vũ Ngọc Anh, Bùi Trinh, Nguyễn Văn Huân (trung tâm Nghiên cứu chính sách phát triển bền vững, viện Khoa học xã hội Việt Nam), đặt vấn đề ở hầu hết các tỉnh, công nghiệp hoá và hiện đại hoá được hiểu là phát triển công nghiệp ồ ạt theo chiều rộng, nên để lại nhiều hệ quả không tốt. Trên số báo này, tiến sĩ Nguyễn Minh Hoà (khoa đô thị học, trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM) đặt một vấn đề tương tự nhưng ở góc nhìn đô thị hoá.

Điểm dừng nào cho đô thị phát triển theo chiều rộng?

SGTT.VN – Công nghiệp hoá và đô thị hoá là một tiến trình tất yếu đối với những nước nông nghiệp nghèo muốn trở thành quốc gia giàu mạnh. Nhưng mỗi quốc gia cần phải tỉnh táo khi lựa chọn mô hình phát triển, định hướng chiến lược cho nhiều trăm năm sau sao cho phù hợp với bối cảnh kinh tế – xã hội của đất nước.

Đô thị hoá không chỉ duy nhất là bành trướng tổ chức vật chất và con người mà còn là “quá trình chuyển những
giá trị ưu việt và ảnh hưởng tích cực của đô thị tới những vùng nông thôn”. Ảnh: Lê Hồng Thái

Việt Nam đang tiến hành đô thị hoá trên một quy mô rất rộng lớn, và với một tốc độ khá nhanh, đến 2010 đã có 755 đô thị. Trong một hội thảo về phát triển đô thị bền vững gần đây, có ý kiến cho biết, gần đây, bình quân mỗi tháng cả nước mọc lên một đô thị. Năm 2000, tỷ lệ dân cư đô thị toàn quốc là 22,3% thì năm 2010 là 34%. Đây là giai đoạn tốc độ đô thị hoá được đẩy lên nhanh nhất sau khi Hà Nội mở rộng tăng diện tích từ 924km2 với 2,4 triệu dân lên 3.344km2 (tăng bốn lần) và 6,448 triệu dân (tăng gấp ba lần) trở thành thành phố đứng thứ 17 trên thế giới.

Đồng thời trong giai đoạn mười năm này, chúng ta chứng kiến sự mở rộng từng ngày của TP.HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ… và sự nâng cấp hàng loạt điểm dân cư đô thị từ thị trấn lên thị xã, từ thị xã lên thành phố, từ cấp bốn, ba, lên cấp hai, một. Một loạt thành phố mới xuất hiện trên cơ sở nâng cấp trung tâm của khu vực đã có hay là hoàn toàn mới trên cơ sở của công nghiệp và dịch vụ như Dung Quất, Hạ Long, Bến Tre, Quảng Ngãi, Cam Ranh…

Cùng với quyết định tăng cấp quản lý là sự mở rộng diện tích, dân số đô thị là sự xuất hiện của hàng trăm khu công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng mới hàng ngàn khu dân cư, rất nhiều các khu dịch vụ và hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Điều này đồng nghĩa với việc đất đai nông nghiệp bị mất đi. Trung bình mỗi năm, theo tiến sĩ Lê Văn Bảnh viện trưởng viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, nước ta mất khoảng 70.000ha đất nông nghiệp cho công nghiệp mà hầu hết đều thuộc loại “bờ xôi, ruộng mật”. Nếu kể cả diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sang cho các sân golf, khu nghỉ mát, trang trại tư nhân, thì diện tích còn lớn hơn thế rất nhiều.

Nếu đô thị hoá theo chiều rộng, thiên về quy mô và tổ chức vật chất sẽ đưa đến những hệ luỵ rất nguy hiểm không chỉ cho hôm nay mà còn cho muôn đời con cháu mai sau. Những hệ luỵ đó là:

• Tác động xấu đến an ninh lương thực quốc gia khi mà diện tích đất nông nghiệp cứ giảm dần từng năm.
• Nếu nông nghiệp, đặc biệt là lúa và các nông sản khác bị giảm sút sẽ làm mất đi lợi thế cạnh tranh và ưu thế so sánh với các nước khác.
• Cội nguồn văn hoá Việt Nam là từ nông nghiệp, cũng chính nông nghiệp, nông thôn là nơi nuôi dưỡng, bảo vệ giá trị, bản sắc văn hoá của dân tộc, do vậy mà một khi cái nôi sinh ra nó bị thu hẹp lại, biến mất đi thì cái “hồn” đó cũng khó lòng mà tồn tại.
• Sản xuất nông nghiệp trở thành một thói quen, tập tục và tâm lý ngàn đời đối với một đất nước mà đại đa số người dân làm nông nghiệp, do vậy sự chuyển đổi từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp không phải là một tiến trình dễ dàng, sẽ có rất nhiều người không thích nghi được, vả lại nếu tổ chức xã hội không tốt sẽ không dung nạp hết lao động nông nghiệp dôi dư, sẽ nảy sinh ra nhiều hệ quả.

Tiến trình bành trướng đô thị đang diễn ra với quy mô ngày càng lớn, tốc độ ngày càng nhanh. Nếu có điều kiện đọc tất cả các nghị quyết của các tỉnh thành thì tôi tin chắc rằng 100% đều phấn đấu gia tăng diện tích và dân số đô thị cho những năm tới. Đến năm 2025 Hà Nội sẽ có dân số là hơn 10 triệu, TP.HCM là 12 triệu, Đà Nẵng 1,5 triệu, Cần Thơ 1,8 triệu… Tất cả các thành phố, thị xã của đồng bằng sông Cửu Long đều trong xu hướng tiến nhanh đến xã hội đô thị. Chẳng hạn, thị xã Bến Tre mới lên thành phố loại ba cách nay chừng một năm nhưng nay đã có kế hoạch nâng cấp lên loại hai, tăng dân số từ 143.000 người hôm nay lên 300.000 người, và diện tích lên gấp đôi vào 2020. Một số người có trách nhiệm mong muốn mức độ đô thị hoá của Việt Nam sẽ lên đến 70 – 80% vào cuối thế kỷ 21 này.

Nhiều người cho rằng đô thị hoá là quá trình làm mất “tam nông”, chuyển từ người nông dân sang thị dân, từ làng xã nông nghiệp sang thành phố, làm gia tăng số lượng thành phố trong quốc gia, làm gia tăng dân số và diện tích ở một thành phố… Đó là đô thị hoá theo chiều rộng, thiên về quy mô và tổ chức vật chất. Hiểu như thế không sai, nhưng chưa đủ và có phần bị méo mó.

Chúng ta phải “tư duy lại”. Đô thị hoá không chỉ duy nhất là bành trướng tổ chức vật chất và con người mà còn là “quá trình chuyển những giá trị ưu việt và ảnh hưởng tích cực của đô thị tới những vùng nông thôn”. Điều đó có nghĩa là những vùng “tam nông” vẫn được bảo tồn, nhưng nó có sự thay đổi về chất nhờ có “văn minh đô thị” chuyển về. Lúc này người nông dân vẫn làm nông nghiệp nhưng là nông nghiệp mới hiện đại. Các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật trong sinh học, tin học, cơ khí, điện khí hoá, tự động hoá được đưa vào trong sản xuất làm tăng năng suất lao động, nâng cao giá trị gia tăng trên một đơn vị đất. Còn người nông dân được thụ hưởng các dịch vụ của đô thị như nước sạch, điện, y tế, giáo dục, truyền thông, bảo hiểm y tế. Môi trường sống nông thôn có đầy đủ hạ tầng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương tự như đô thị. Và còn hơn thế nữa họ sống trong môi trường tự nhiên trong lành được bảo tồn gần như nguyên vẹn và trong môi trường xã hội thân thiện, tình nghĩa cộng đồng. Một đời sống như thế có chất lượng cao hơn cả đô thị chen chúc, khói bụi, đắt đỏ và ngột ngạt.

Mô hình kết hợp cùng lúc cả hai chiều kích của đô thị hoá đã rất thành công ở Đài Loan, và một số tỉnh thành của Trung Quốc. Hình ảnh người nông dân Đài Loan đi xe hơi ra đồng ruộng, sống đàng hoàng trong những thị trấn làng đã cho thấy một hướng đô thị hoá không quá chú trọng đến mặt tổ chức vật chất không gian.

TS NGUYỄN MINH HOÀ

Kinh nghiệm Hàn Quốc

Năm 1960 khi bắt đầu tiến trình đô thị hoá nhanh dựa trên công nghiệp và dịch vụ hoá, Hàn Quốc còn hơn 60% người dân làm nông nghiệp, đến 1990 số người làm nông nghiệp chỉ còn dưới 10%, hơn 95% đất nông nghiệp chuyển thành đất đô thị và công nghiệp. Mặc dù Hàn Quốc được coi là mẫu hình thành công nhất thế giới về đô thị hoá và công nghiệp hoá, nhưng việc để mất “tam nông” được coi là bài học kinh nghiệm đau xót nhất. Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp phải nhập khẩu từ Mỹ và Trung Quốc như gạo, thịt bò, trái cây, rau quả thậm chí cả rau cải làm kim chi. Rất may là thặng dư từ nền công nghiệp và dịch vụ của họ thừa sức trang trải cho nông nghiệp, nhưng hệ luỵ của nó trên các khía cạnh văn hoá, xã hội và tâm lý là rất lớn. Đã nhiều lần Hàn Quốc đầu tư khôi phục lại các làng nông nghiệp mới, nhưng thất bại vì nông dân trở thành thị dân thì dễ nhưng ngược lại thì không thể, tương tự đất công nghiệp không thể hoàn thổ trở lại đất canh tác.

This entry was posted in Dân số đô thị, Kinh tế đô thị, Lý thuyết xã hội học, PGS.TS. Nguyễn Minh Hòa, Xã hội học và các vấn đề xã hội, Xã hội học đô thị, Xã hội Việt Nam, Đô thị học. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s