DI CƯ NÔNG THÔN – ĐÔ THỊ – THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI CHO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


MỘT SỐ VẦN ĐỀ VỀ DI CƯ NÔNG THÔN – ĐÔ THỊ

THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI CHO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bùi Việt Thành

Đô thị học và Quản lí đô thị

ĐH KHXH&NV TP.HCM

 Bài đã được viết lại

  1. I.               Dẫn nhập:

Dân số tăng nhanh, trong khi đó chiến lược phát triển đô thị không đi đôi với việc làm và các dịch vụ kèm theo, khiến thành phố trở nên chật chội, bức bối. Đó là bức tranh mà TP.HCM đang gặp phải trong 10 năm gần đây. Theo kết quả điều tra, TP.HCM hiện có số dân cao nhất nước, lên tới trên 7.2 triệu người, trong đó 1.2 triệu người sống ở nông thôn. [TĐTDS, 2009].

Dân số là yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội một địa phương, một đất nước. Dân số vừa có tư cách như một chủ thể làm ra của cải xã hội, vừa có tư cách như một đối tượng thụ hưởng của cải vật chất và các dịch vụ xã hội. Chỉ tiêu quy mô dân số, cơ cấu dân số, là những chỉ tiêu cơ bản làm nền tảng cho việc tính toán, xây dựng, quy hoạch kinh tế xã hội.

Thách thức đối với việc phát triển đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) hiện nay là rất lớn, với quy mô dân số 7.2 triệu dân và có khả năng tăng trong những năm tới, nhất là với tình trạng nhập cư vào thành phố tiếp tục gia tăng trong những năm gần đây[1], tỷ lệ tăng cơ học vượt tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số thành phố. Bên cạnh 1 số ưu tiên lớn cho phát triển kinh tế xã hội của thành phố, thì TP.HCM vấn đề dân nhập cư cũng được đặt lên vị trí ưu tiên. Theo số liệu thống kê năm 1998, số người không có hộ khẩu thường trú là 12.9 % trên toàn địa bàn thành phố. Tỷ lệ này tăng dần theo thời gian, năm 2000 chiếm 15.2 % (730.878 người). Kết quả cuộc điều tra dân số giữa kỳ năm 2004 (01/10/2004) ở TP.HCM cho thấy, toàn thành phố có 1.844.548 người diện KT3 và KT4[2]  đến từ các tỉnh, thành phố trong cả nước chiếm 30.1% dân số toàn thành phố (6.117.251 người). Với điều tra về “Nghèo đô thị” cũng thấy tỷ lệ người nhập cư trên 20% (không tính một số đối tượng như sinh viên,…). Mặc dù có thể có những sai số nhất định, nhưng cho thấy trong 5 năm trở lại đây số người không có hộ khẩu thường trú đã tăng đáng kể, ít nhất là từ 700.000 đến 1 triệu người. [Lê Văn Thành,2008]

Tỷ lệ tăng dân số cơ học của TP.HCM cũng gia tăng rõ rệt, nếu thời kỳ 1979-1989 là 0.02%, thì thời kỳ 1989-1999 là 0.84% và thời kỳ 1999-2004 là 2.33%. Sự gia tăng này đã kéo theo sự gia tăng về tỷ lệ tăng chung của thành phố tương ứng với 3 thời kỳ trên là 1.63%, 2.36% và 3.6%. Điều đó càng làm cho vai trò tăng cơ học rõ nét hơn nếu gắn nó trong tình hình tỷ lệ tăng tự nhiên của thành phố liên tục giảm tương ứng với 3 thời kỳ vừa nêu là 1.61%, 1.52% và 1.27%. Hoặc nói cách khác, thời kỳ 1999-2004 có tốc độ tăng dân số cao hơn hẳn tốc độ dân số của các thời kỳ trước và chủ yếu là do tăng cơ học nhanh vượt bậc. Từ 2004-2009, tốc độ dân nhập cư không giảm dù có nhiều địa phương khác như Bình Dương, Đồng Nai đón nhận khá nhiều dân nhập cư. Theo tính toán sơ bộ xu thế gia tăng của dân nhập cư qua các thời kỳ như sau:

ü  Số người nhập cư bình quân hàng năm thời kỳ 1984-1989 là: 27.154 người.

ü  Số người nhập cư bình quân hàng năm thời kỳ 1994-1999 là: 86.753 người

ü  Số người nhập cư bình quân hàng năm thời kỳ 1999-2004 là: 126.200 người

ü  Số người nhập cư bình quân hàng năm thời kỳ 2009-2010 cũng xấp xỉ hơn 100 ngàn người, không hề có suy giảm, bình quân mỗi năm thành phố tăng thêm khoảng 200.000 người dân, trong đó có hơn 130.000 dân nhập cư. Theo dự báo dân số đến năm 2025 là khoảng 10 triệu dân và năm 2050 lên đến 15 triệu dân. [Lê Văn Thành,2008]

Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở do UBND TP.HCM công bố ngày 23-10-2009, dân số của thành phố là 7,123 triệu người, tăng hơn 2 triệu dân trong vòng 10 năm, vượt dự báo đến năm 2010 mới đạt, tức dân số thực tế đạt mốc trước một năm, nguyên nhân chính là do di dân từ các tỉnh khác đến (tăng cơ học). Vì vậy, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của thành phố chỉ đạt 1.27% do tỉ lệ sinh thấp. Tính chung, tỉ lệ tăng dân số của TP.HCM trong giai đoạn 1999-2009 là hơn 3.5%. Số lượng nam giới ít hơn nữ giới khoảng 270.000 người, tức 100 người nữ có gần 93 người nam, nên có thể xem tỉ lệ tăng dân số tự nhiên không gây nên tình trạng tăng dân số nhanh chóng của TP.HCM.

Với số lượng dân cư như trên, mật độ dân số trung bình của TP.HCM hiện nay là 3.400 người/km2, trong đó mật độ dân số ở quận nội thành cao gần gấp năm lần so với huyện ngoại thành. Quận đông dân nhất là Bình Tân với hơn 570.000 người, ít dân cư nhất là quận 2 với 145.000 dân, Cần Giờ với 68.000 dân.

Bức tranh biến động dân số của thành phố chia thành ba nhóm: nhóm giảm dân số ở các quận nội thành như quận 1, 3, 5…, nhóm tăng bình thường là các huyện ngoại thành và nhóm tăng nhanh đột biến là các quận vùng ven. Trung bình mỗi phường, xã của TP.HCM có dân số hơn 22.000 người. Trong đó, các quận vùng ven như Thủ Đức, Tân Phú là 30.000 người/phường, đặc biệt một phường ở quận Bình Tân trên 57.000 người/phường. Nếu không có những chính sách thích hợp thì chừng 10 năm nữa, dân sẽ tăng hơn 10 triệu người và vượt quá tầm quản lý của nhà nước. Theo nhận định của Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, nguyên nhân của việc tăng dân số cơ học đột biến trong thời gian qua là do các chính sách về cư trú và đất đai được nới lõng. Người dân dễ dàng mua nhà đất, nhập hộ khẩu thường trú để có cuộc sống ổn định nên thu hút dân di cư. Nếu không có chính sách hạn chế di cư từ các tỉnh thì có nguy cơ đến năm 2020 dân số thành phố sẽ vượt qua con số 10 triệu người và làm xáo trộn các định hướng quy hoạch của thành phố.

Dân số cơ học tăng quá nhanh tạo sức ép rất lớn lên mạng lưới giao thông, gây kẹt xe, đó là chưa kể mạng lưới hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện… hoặc hạ tầng kĩ thuật không đáp ứng được nhu cầu thực tế. Việc lo nhà ở đáp ứng nhu cầu của một lượng dân nhập cư đông và nhanh như hiện tại cũng là vấn đề lớn.

2. Đối tượng nghiên cứu:

Di dân luôn diễn ra trong suốt tiến trình của loại người và lịch sử hình thành và phát triển của thành phố cũng gắn liền với di dân, dưới nhiều hình thức. Trong xã hội cũ người ta di chuyển nhiều để tồn tại, dù trải qua nhiều hình thái kinh tế khác nhau, song di dân vẫn tồn tại và tiếp diễn theo thời gian và không gian. Di dân từ nông thôn ra thành thị ở những nước đang phát triển như Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, đây không phải là hiện tượng mới dưới tác động của đô thị hóa.

Về mặt bản chất, di dân không phải là một hiện tượng sinh học như sinh đẻ mà nó là một quá trình, lặp đi lặp lại theo vòng đời của con người, đây là hiện tượng căn bản để phân biệt di dân với các hiện tượng dân số khác. Khi mức sinh thấp và hiện tượng già hóa dân số, thì nhu cầu nguồn nhân lực trẻ cần được duy trì và đáp ứng được nhu cầu của kinh tế, văn hóa, xã hội thì di dân và dịch chuyển dân số là hết sức cần thiết, giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội.

TP.HCM thu hút lao động nông thôn di cư vào thành thị rất lớn, mang lại nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cho người lao động tuy nhiên chính di cư cũng tạo nên một sức ép rất lớn đối với thành phố trong vấn để phát triển. TP.HCM đang trong giai đoạn phát triển đô thị mạnh mẽ, chủ yếu do làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thị vì mức tăng trưởng cao ở thành thị, cộng với sự khác biệt nông thôn thành thị ngày càng lớn và việc quản lí hộ khẩu không còn chặt chẽ. Cụ thể, dân cư ở khu vực thành thị là 25.436.896 người, chiếm 29.6% tổng dân số cả nước. Như vậy, dân số thành thị đã tăng với tốc độ trung bình là 3.4% mỗi năm và tốc độ này ở khu vực nông thôn chỉ là 0.4% mỗi năm. Qua con số này chúng ta sẽ thấy quá trình di dân nông thôn thành thị sẽ còn tiếp diễn mạnh trong những năm đến.

Trong bối cảnh đó, việc nhìn nhận quá trình di dân nông thôn và thành thị một cách nghiêm túc, để hiểu rõ qui luật di cư theo những công thức vốn có, hay có những biến động khác làm thay đổi luồng di cư này chính là mục tiêu của nghiên cứu này.

Như vậy, trong khuôn khổ đề tài, đề tài chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu tình hình di cư và một số vấn đề phát sinh tại địa bàn TP.HCM, nơi thu hút dân di cư đến đông nhất và có tác động nhiều nhất đến sự phát triển kinh tế-xã hội.

Theo cách hiểu thông thường, dân di cư đến TP.HCM là khái niệm có nội hàm tương đối rộng, dùng để chỉ nhiều đối tượng dân cư khác nhau, nên đề tài tập trung vào nghiên cứu dân di cư tự do và so sánh một số đối tượng khác (các tỉnh lân cận lên xây dựng, lao động theo mùa vụ, dịch vụ buôn bán tự do… giới hạn trong việc chỉ nghiên cứu nguyên nhân di cư đến TP.HCM và một số hệ quả của nó tác động đến kinh tế – xã hội của thành phố, trong đó di dân tự do là một trong hai đối tượng di cư có số lượng đông đảo nhất, vì thế có tác động toàn diện và sâu sắc nhất đến kinh tế – xã hội của người dân tại chỗ nơi đây.

Phương pháp luận và các đặc điểm hạn chế:

Các phân tích di cư tại TP.HCM trong bài viết này được sử dụng các số liệu và các nghiên cứu hiện có. Phần lớn các số liệu định lượng được lấy từ cuộc điều tra dân số và nhà ở năm 2009, điều tra mức sống hộ gia đình 2004. Tuy nhiên, điểm hạn chế quan trọng là hầu hết các số liệu đại diện cho toàn bộ dân số đều chưa tính tới một số nhóm di cư và các dòng di cư của họ, một phần của hạn chế này là do qui mô mẫu và câu hỏi di cư trong cuộc điều tra.

Tổng điều tra dân số 1999, 2009 đưa ra bức tranh cập nhật và mang tính đại diện nhân khẩu học nhất về các dòng di cư trong nước ở Việt Nam, tuy nhiên tổng điều tra dân số định nghĩa người di cư là người có nơi cư trú tại thời điểm điều tra khác với nơi họ ở trước đây 5 năm, định nghĩa này bỏ sót những người di cư lâu hơn 5 năm, hoặc bỏ qua những người di cư trong 5 năm trở lại đây nhưng đã trở về nhà trước thời điểm điều tra, và bỏ qua nhưng người di cư mùa vụ, di cư tạm thời, vì chỉ di cư trong thời gian ngắn. Vì lí do đó mà tổng số người di cư đến TP.HCM trong điều tra dân số không tính người đã di cư trên 5 năm, những người di cư mùa vụ, di cư tạm thời, di cư con lắc với thời gian di cư ít hơn 5 năm nhưng đã về lại nơi ở cũ. Chính vì thế những người mới di chuyển đến nơi mới ít hơn 6 tháng hầu như chưa được tính đến. Một vấn đề khác là cũng phải mất từ 6 đến 12 tháng giữa các lần chọn hộ gia đình từ danh sách hộ gia đình của xã và phường và thời gian điều tra phỏng vấn. Điều này cho thấy điều tra vẫn bỏ sót các hộ gia đình mới và cũng là lời giải đáp cho tỷ lệ không trả lời cao ở các khu vực thành thị. Đây là một điều hiển nhiên khi lưu ý rằng kết quả của cuộc điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004 cho biết chỉ có 3,8% dân số TP.HCM là các hộ gia đình thuộc nhóm KT3 hoặc đăng ký KT4. Ngược lại điều tra giữa kỳ của hai cuộc tổng điều tra của TP.HCM trong cùng năm đó cho thấy rằng các hộ này chiếm gần 20% dân số ở đây[3]. Số dân trong độ tuổi từ 20-29 (đây là độ tuổi tập trung người di cư) trong cuộc điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004 cũng ít hơn con số trong tổng điều tra năm 1999 từ 20-30% và điều này cũng gợi ra giả thuyết rằng có một số lượng lớn người di cư một mình và các hộ gia đình di cư chưa được tính trong cuộc điều tra. Điều tra biến động dân số hàng năm là một nguồn thông tin hữu ích về di cư trong nước vì cuộc điều tra này có sử dụng một câu hỏi về sự di chuyển nơi cư trú trong năm trước thời điểm điều tra. Tuy nhiên cuộc điều tra này cũng chưa nắm bắt được các động thái di chuyển ngắn hạn nổi trội (đặc biệt là những di chuyển mùa vụ diễn ra trong phạm vi một năm) vì rất nhiều người di cư ngắn hạn này chưa được thống kê. Những hạn chế này phản ánh những khó khăn trong việc theo dõi một bộ phận dân số di chuyển thậm chí ngay từ định nghĩa của nó. Lý do tại sao những hạn chế này được đề cập nhiều lần ở đây là vì những đối tượng thường bị bỏ qua này cũng là đối tượng của bài viết. Một số các nghiên cứu cho rằng trong số những người dân di cư trong nước vì lý do kinh tế ở Việt Nam, những người chưa được thống kê bị bỏ qua trong các cuộc tổng điều tra dân số và các cuộc điều tra khác chính là những người yếu thế nhất và những người ít được lưu tâm nhất trong quá trình lập kế hoạch của chính phủ.

  1. II.             Lý thuyết áp dụng.

Ở tầm vĩ mô về di cư, lý thuyết của Ravenstein (1889) về qui luật di cư, ông cho rằng đa số di dân di chuyển ở phạm vi ngắn, một số sẽ di chuyển xa là di chuyển đến các thành phố lớn, thương mại, di cư diễn ra trong nhiều giai đoạn. Quá trình đô thị hóa thu hút dân số từ các vùng ngoại ô vào trung tâm. Khoảng trống vùng ngoại vi sẽ được lấp đầy cư dân vùng khác đến. Cư dân ở trung tâm nhỏ sẽ chuyển đến trung tâm lớn hơn. Cứ như vậy, quá trình di cư diễn ra theo nhiều giai đoạn kế tiếp theo hướng di chuyển về trung tâm đô thị lớn. Thông thường các trung tâm thương mại, công nghiệp lớn sẽ thu hút những vùng xung quanh và vùng xa hơn. Mỗi dòng di cư sẽ tạo ra dòng di cư ngược lại. Mức di cư nông thôn có xu hướng cao hơn mức di cư ở các đô thị (không phù hợp trong giai đoạn hiện nay). Phụ nữ có xu hướng di cư nhiều hơn nam giới ở khoảng cách địa lý gần. Di cư tăng lên theo trình độ phát triển kỹ thuật. Kinh tế là nhân tố quan trọng nhất di cư, mặc dù môi trường xã hội, luật lệ… có ảnh hưởng nhất định. Đây là lý thuyết vĩ mô cho cái nhìn tổng quát về các nguyên dân của di dân đến các trung tâm thương mại, công nghiệp, tạo tiền đề cho các nghiên cứu khác.

Lý thuyết của Hawley (1950)[4] về áp lực đất nông nghiệp đối với di cư: đất nông nghiệp là một nhân tố quan trọng thúc đẩy các di cư không ngừng nghỉ trong lịch sử. Lịch sử loại người là lịch sử của cuộc di cư, và cho đến thời đại công nghiệp thì việc tìm kiếm đất sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân lớn nhất của di cư. Mật độ dân số cao làm giảm mức đất nông nghiệp bình quân lao động, và do vậy làm giảm mức cung cấp lương thực và việc làm cho dân cư địa phương. Ngược lại, mật độ dân số thấp cung cấp nhiều cơ hội kinh tế và các lợi ích dân cư địa phương. Những yếu tố này chính là các nhân tố “đẩy” và “hút” chủ yếu thúc đẩy di cư từ nơi có mật độ dân số cao đến nơi có mật độ dân số thấp.

Một lý thuyết nghiên cứu nổi tiếng trong việc nghiên cứu về di cư đó là Lý thuyết của Lee về di cư: Lee (1966) lập luận rằng quyết định di cư được dựa trên 4 nhóm dân tố; 1/ các nhân tố gắn bó với nơi ở gốc, 2/ các yếu tố gắn với nơi sẽ đến, 3/ các trở ngại di cư, và 4/ các nhân tố thuộc về người di cư. Mỗi một địa điểm, nơi gốc và nơi đến đều có những ưu điểm và hạn chế trên nhiều lĩnh vực như thu nhập, việc làm, nhà ở, phúc lợi xã hội, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thậm chí là khí hậu…sẽ được người định cư cân nhắc. Thông thường, các điều kiện kinh tế khó khăn ở nơi gốc là nhân tố “đẩy” chủ yếu của việc xuất cư, trong khi cải thiện điều kiện kinh tế của nơi đến là nhân tố “hút” quan trọng nhất của việc nhập cư. Việc đưa ra quyết định định cư còn được tính toán dựa trên các chi phí vật chất và tinh thần, mà khoảng cách địa lí là một vấn đề quan trọng nhất vì điều này không chỉ tăng chi phí vận chuyển mà còn tăng các chi phí vô hình do phải đối mặt với môi trường xa lạ, khó hội nhập. Cuối cùng việc di cư phụ thuộc vào những phẩm chất cá nhân của từng người, điều này nhà nghiên cứu thường gọi là tính chọn lọc di cư (migration selectivity). Lý thuyết của Lee là rất có ích cho việc nghiên cứu nhân tố vĩ mô và cả vi mô của di cư [Lê Thanh Sang, 2008].

Như vậy, có thể xem nguyên nhân di chuyển: Nơi đi và nơi đến- cả nơi đi và nơi đến đều có lực hút và đẩy (vĩ mô), các yếu tố can thiệp (vi mô) vào các yếu tố cá nhân (trung mô). Các yếu tố tiêu cực tác động như là lực đẩy, còn các yếu tố tích cực là lực hút. [Nguyễn Thị Hồng Xoan, 2011][5]

Bên cạnh đó, hiện nay việc nghiên cứu mạng lưới xã hội, trở thành nghiên cứu chuyên sâu, để lí giải vấn đề di cư. Mạng lưới xã hội không chính thức như họ hàng, bạn bè, đồng hương đóng vai trò quan trọng trong việc di dân, mạng lưới xã hội giúp cho người di cư tiềm năng về thông tin trước khi di chuyển. Sau khi di chuyển mạng lưới xã hội giúp cho người di chuyển về việc làm, nhà ở và sự giúp đỡ khác. Những người giúp cư có xu hướng sống tập trung ở những khu vực có bà con họ hàng hoặc là người thân.

Lí thuyết phân tích mạng lưới xã hội (Social Network Analysis Theory) là một cách tiếp cận nhằm phân tích các vấn đề về  mạng lưới xã hội. Khái niệm cơ bản trong hệ thống xã hội (social system), nếu cấu trúc xã hội (social structure) thường được xem như là cột dọc thì mạng lưới xã hội là các kèo ngang.  Ronald Burt với lý thuyết lỗ hổng cấu trúc (structure holes) đã đưa ra ví dụ điển hình là trong mối quan hệ ba người (A quan hệ với B, B quan hệ với C, nhưng A không quan hệ với C). Ở mối quan hệ này, B là kẻ nắm được lỗ hổng cấu trúc giữa A và C và tạo khả năng thu lợi, tạo vốn xã hội (social capital) thông qua vai trò điều phối, kết nối cho các tác nhân còn lại. Nan Lin – lí thuyết về di động xã hội, các cá nhân tìm kiếm lợi nhuận trong mạng lưới xã hội thông qua sự di động xã hội. Miller McPherson, Lynn Smith-Lovin và James M.Cook – lí thuyết đồng dạng. Các cá nhân giống nhau thường xảy ra khả năng liên kết cao hơn so với các cá nhân khác nhau. Nhà xã hội học Mỹ James Cook nhấn mạnh:“Mạng xã hội là một hình ảnh thống nhất và được đơn giản hoá trong lĩnh vực xã hội học đầy phức tạp và phân tán. Đó là sự mô tả cụ thể về cấu trúc xã hội trừu tượng, có khả năng hiện hữu hoá những nguồn lực xã hội không nhìn thấy. Mặc dù các mạng xã hội đều đơn giản chỉ được thực hiện bằng các nút và dây nối, chúng vẫn đủ linh động để mô tả các quan hệ của quyền lực và sự tương tác cung cấp một nền tảng vi mô của xã hội học”.

IV. Các vấn đề Di cư nông thôn – đô thị:

4.1.         Xét nguồn gốc nhập cư:

Từ cuộc điều tra dân số năm 1989, 1999, nhìn chung người nhập cư đến TP.HCM từ mọi miền đất nước, nếu thời điểm 1989 thì 3 vùng trung du miền núi, ĐB.SH[6], Bắc trung bộ chiếm 19.3%, thì đến năm 1999 tăng lên 24.7% [Lê Văn Thành,2008] và đến cuộc điều tra năm 2009 thì chỉ tính riêng Bắc Trung Bộ và ĐB.SH đã chiếm đến 39.3%. Qua ĐTDS 2009, cho thấy số lượng người di cư đến TP.HCM và KCN Đông Nam Bộ thì chiếm đến 34.3% tổng số dân di cư cả nước. Chỉ tính riêng ĐB.SCL di cư đến TP.HCM năm 2009 chiếm 29.7%, trong khi người di cư ở Đông Nam Bộ di cư đến TP.HCM chỉ chiếm 13.3%. [TĐTDS, 2009].

Trong các cuộc điều tra dân số trước đây, cũng như các cuộc điều tra về di cư, kết quả cho thấy số lượng nam giới di cư nhiều hơn nữ giới, chúng ta có thể xem qua số liệu điều tra di cư vào các thành phố lớn năm 1996, do dự án VIE 96/004 thực hiện:

Bảng 1: Cơ cấu giới tính của dân di cư – Đơn vị tính %.

 

Năm

Hà  Nội TP.HCM
Nam Nữ Nam Nữ
1990 *[7] * 43 *
1995 55 45 46 *
1996 42,5 57,5 40,4 49,6

                       Nguồn: Điều tra di dân vào các thành phố – Dự án VIE96/04 – 1996

Trước những thay đổi của đất nước, người đàn ông mạnh dạn rời bỏ nơi sinh sống để đến các vùng đất mới tìm kiếm việc làm, có điều kiện nâng cao cuộc sống, do nơi sinh sống cũ không thể mang đến những điều kiện nâng cao cuộc sống. Nên tỷ lệ nam giới chiếm chủ đạo trong di cư tự do đến các vùng đất mới. Tuy nhiên, với nền kinh tế thị trường phát triển ở Việt Nam, nhất là thành phố lớn, các ngành nghề mới phát triển, nhất là trong ngành dịch vụ thu hút nữ giới làm việc nhiều hơn nam giới, qua cuộc điều tra dân số năm 2009 (xem bảng 3), con số sau thể hiện sự tăng nhanh việc nữ giới di cư đến TP.HCM và Đông Nam Bộ. Tính 3 vùng có số lượng người di cư lớn đến TP.HCM (ĐB.SH, Bắc Trung Bộ, ĐB.SCL[8]) thì nữ chiếm 71.8% và nam chiếm 64.9%. Qua số liệu của TT Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin trị trương lao động TP.HCM chúng ta có  thể những ngành nghề thu hút lao động nữ.

Bảng 2: Phân tích chỉ số cơ cấu nhân lực theo ngành nghề – Trình độ nghề trên địa bàn TP.HCM tháng 2, Quí I năm 2010 (%)

STT Ngành nghề 12/2009 2/2010
1 Marketing – Nhân viên kinh doanh 21.38 10.08
2 Bán hàng   9.19
3 Dịch vụ & phục vụ 17.22 12.5
4 Dệt – May – Giày da 7.03 11.59

Bảng 3: Dự báo các chỉ tiêu lao động trên địa bàn TP.HCM năm 2010

Đơn vị tính:
Chỉ tiêu 2005 2010 Tốc độ tăng bình quân 2006-2010(%)
Khu vực dịch vụ 1.304.206 1.595.000 4,11
Thương mại 408.425 519.200 4,92
Dịch vụ 895.781 1.075.800 3,73


Nguồn:
Tính toán của nhóm nghiên cứu Viện Kinh tế – TP.HCM – 11/2009

Qua tháp tuổi và giới tính (gồm dân cư nông thôn và thành thị) cho thấy việc thu hẹp đáy tháp do tỷ lệ sinh giảm trong suốt 20 năm qua. Nhóm tuổi lao động do chuyển cư từ nông thôn lên thành thị, trong đó nữ nhiều hơn nam. Tại TP.HCM việc làm cho nữ nhiều hơn nam giới (công nhân may mặc và dịch vụ), ngoài lí do kinh tế, một vấn đề liên quan đến phong tục cho thấy việc con trai được thừa kế gia sản của cha mẹ, các cặp vợ chồng ít con, vì vậy nam giới ít di cư đến thành phố hơn nữ giới. [Patrick Gubry, Lê Văn Thành, Nguyễn Thị Thiềng và cộng sự, 2002][9]

Biểu đồ: Tháp dân số  – giới tính của TP.HCM – 1999

Nguồn: TP.HCM và Hà Nội: Dân số và di chuyển nội thị, Patrick Gubry, Lê Văn Thành, Nguyễn Thị Thiềng và cộng sự, 2002

Tỷ lệ người di cư làm việc theo hợp đồng chính thức cũng khác nhau rất nhiều trên cả nước và trong các nghiên cứu khác nhau. Theo cuộc điều tra di cư năm 2004, 58% nam di cư ở TP.HCM chưa có hợp đồng lao động, những nữ giới thì đến 80% có hợp đồng lao động. Tỷ lệ nữ có hợp đồng lao động cao hơn là kết quả của tỷ lệ nữ di cư cao hơn nam giới di cư tại khu vực công nghiệp (so với khu vực không chính thức). [Khảo sát di cư Việt Nam 2004].

Qua các cuộc điều tra trên và kết quả điều tra dân số năm 2009, cho thấy tỷ lệ nữ di cư đến TP.HCM đang tăng lên một cách đáng kể khi thành phố có nhiều thay đổi trong cơ cấu ngành nghề, trong đó dịch vụ và thương mại đã là ngành nghề thu hút lao động nữ rất lớn, nhưng đáng kể nhất vẫn là tại các KCN, KCX với các ngành giày da, may mặc, chế biến thủy hải sản vẫn thu hút lớn số lượng nữ nhập cư vào thành phố. Theo thống kê của LĐLĐ TP.HCM, Ban Quản lý KCX-KCN thì trên địa bàn thành phố có 37.165 doanh nghiệp với 892.960 công nhân đang làm việc. Trong đó, có 250.000 công nhân làm việc tại 940 doanh nghiệp trong KCX-KCN và 642.960 công nhân tại 36.225 doanh nghiệp ngoài KCX-KCN. Công nhân ngoại tỉnh chiếm 70%. Có đến hơn 90% công nhân sống ở những khu nhà trọ do người dân xây dựng tự phát[10]

3.2. Độ tuổi, tình trạng hôn nhân của nhập cư:

Điều này cho thấy đa số người nhập cư ở độ tuổi trẻ và ngày càng trẻ, trong độ tuổi lao động, có tác động làm thay đổi cơ cấu dân số theo hướng trẻ hóa, đem lại những lợi ích về tiềm năng lao động và nguồn nhân lực cho thành phố. Độ tuổi nữ nhập cư trẻ và chủ yếu đến từ các tỉnh của ĐB.SCL. Tính tỷ lệ phần trăm nhóm tuổi toàn quốc di cư đến TP.HCM, ở nhóm 20-24 chiếm đến 39,2%, nhóm 25-29 chiếm 22.6% và nhóm 30-34 chiếm 13.1%. Đây là 3 nhóm đại diện cho nguồn nhân lực trẻ, trong đó lượng người nhập cư đã có xu hướng rất trẻ là nhóm 20-24 chiếm đến 39.2% cao nhất cả nước. Nổi bật nhất là số lượng nữ di cư cho thấy họ rất trẻ, chiếm đến 39%, thấp hơn một chút so với nam giới 39.4%.  Con số này cao hơn nhiều so với vùng Đông Nam Bộ là 36.3%, 29.8% và 13.7%.[ĐTDS& Nhà ở năm 2009].

Với điều tra trên cũng phù hợp thực tế rằng tỷ lệ người nhập cư đến thành phố phần lớn đang trong tình trạng độc thân, 51.4% tình trạng chưa có vợ chồng, 46.2% là số người nhập cư có gia đình, với tình trạng trên thì so với Đông Nam Bộ có ngược lại khi 51.8% có gia đình di cư đến KCN Đông Nam Bộ và 46.8% là tình trạng độc thân. Điều này cho thấy, khi đến cả gia đình nhập cư đến KCN Đông Nam Bộ cũng dễ dàng kiếm chổ ở phù hợp với thu nhập và sinh hoạt đối với một gia đình hơn TP.HCM. Trong khi đó tại TP.HCM tiền thuê nhà ở và phòng trọ rất cao, không phù hợp với gia đình trẻ. Số lượng nữ độc thân chiếm đến 49.8% và nam là 53.7% di cư đến TP.HCM tạo nên một động lực cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội, nhưng bên cạnh đó, nó cũng tạo nên nhiều hiện tượng xấu làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân nhập cư, nhất là nạn nạo phá thai. Ban quản lý các KCX – KCN TP.HCM cho biết hiện có trên 180.000 người, trong dó 70% là người ngoại tỉnh, đang lao động tại khu vực này. Trong đó phường Bình Chiểu, Linh Trung, Linh Xuân, quận Thủ Đức, hiện là những điểm “nóng” nhất về số lượng người đến nạo hút thai vì là “trung tâm” của nhiều KCN–KCX. Chỉ tính mấy trạm này tổng số ca nạo hút thai đã vào khoảng 300 ca mỗi tháng và trong năm 2004 có 20 trường hợp bà mẹ bỏ trốn sau khi sinh con. Nhưng thực tế rất nhiều nữ công nhân đến nạo phá thai chưa kết hôn, chưa từng làm mẹ. Phần lớn trong số này là công nhân làm việc ở KCX hoặc lao động nhập cư. Năm 2004 tổng số ca đến nạo phá thai tại quận là 1.094 ca, 6 tháng đầu năm 2005 có 494 ca, trong đó 72 ca ở độ tuổi 19 – 21. Số liệu TT Y Tế Phú Nhuận, cho thấy năm 2003 số ca đến nạo phá thai là 647, năm 2004 tăng gần gấp đôi, chiếm tỉ lệ hơn 45% tổng số sinh. Tại TT Y Tế quận Tân Bình, sáu tháng đầu năm 2005 đã có 2.854 ca đến bỏ thai…

So sánh số liệu nạo hút thai từ các bệnh viện: Bệnh viện Từ Dũ có số ca công nhân nạo hút thai chiếm khoảng 30% tổng số ca đến bệnh viện nạo hút mỗi năm, con số này ở Bệnh viện Hùng Vương là khoảng 10%. Tại Bệnh viện Đồng Nai (khu vực có nhiều khu công nghiệp), số lượng công nhân nạo phá thai cao hơn rất nhiều: số công nhân chiếm 60-65% tổng số người nạo phá thai mỗi năm ở đây. [Tuổi trẻ online: Nạo phá thai trong nữ công nhân, 2010]

3.3. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng di cư:

Theo Lee (1966) quyết định di cư được dựa các nhân tố gắn bó với nơi ở gốc, các yếu tố gắn với nơi sẽ đến, các trở ngại di cư, và các nhân tố thuộc về người di cư. Lý thuyết của Hawley (1950)[11] về áp lực đất nông nghiệp đối với di cư: đất nông nghiệp là một nhân tố quan trọng thúc đẩy các di cư không ngừng nghỉ trong lịch sử. Di cư tăng lên theo trình độ phát triển kỹ thuậ và kinh tế là nhân tố quan trọng nhất di cư, mặc dù môi trường xã hội, luật lệ… có ảnh hưởng nhất định.

Theo lý thuyết di dân, thì các yếu tố trên đóng vai trò quyết định, áp dụng thực tế thông qua số liệu điều tra dân số và nhà ở năm 2009, thì lý do di chuyển chính là do nhân tố kinh tế, học tập, gia đình là những nhân tố chính quyết định di cư. Trong đó lý do kinh tế nên di cư đến TP.HCM chiếm đến 79,7%, lý do gia đình chỉ chiếm 10%, học tập chỉ chiếm 5,1%.  Những năm trước đây, nhập cư vào thành phố vì lý do phi kinh tế (đoàn tụ gia đình, cưới hỏi..) chiếm một tỷ lệ khác cao, gần như một nữa, thì bây giờ động lực kinh tế chiếm vị trí quan trọng áp đảo. Những người nhập cư vào thành phố tìm việc không chỉ vì bản thân mình mà còn có chiến lược quan trọng của các hộ gia đình ở quê quán [Lê Văn Thành,2008].

Lý do di chuyển gồm có những nguyên nhân ở nơi đến và nơi đi. Ở nơi đi vấn đề thất nghiệp ở nông thôn, việc làm thu nhập thấp là nguyên nhân thúc đẩy người di cư đến thành phố. Điệu kiện sinh hoạt của nông thôn quá thấp, có sự chênh lệch so với thành phố như điều kiện học tập, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, giao thông… Ở nơi đến, động lực nhập cư vì lý do kinh tế ngày càng được khẳng định vì người nhập cư tìm việc làm ở thành phố tương đối dễ dàng. Hơn 80% có thể tìm việc làm trong tháng đầu tiên đến thành phố [Lê Văn Thành,2008], chấp nhận làm việc khó khăn hơn, thu nhập ít hơn người dân tại chổ. Điều tra về việc làm trong khu vực không chính thức của Viện Kinh tế TP.HCM chứng minh vấn đề này khi có 44,4% lao động hoạt động phương tiện 2-3 bánh công cộng, 43% hoạt động trên vỉa hè và 55% buôn bán lưu động là người nhập cư [Lê Văn Thành, 2008]. Đây là loại ngành nghề có yêu cầu tay nghề thấp, vốn thấp, dễ kiếm tiền nên thu hút người lao động nhập cư.

Một số nguyên nhân khác cho thấy, người dân tại các vùng chịu nhiều thiên tai khắc nghiệt có số lượng người di cư lớn, nhất là khu vực Miền Trung. Môi trường tự nhiên đang là tác nhân đã và đang tác động đến xu thế di cư. Người ta đánh giá rằng tác động lớn nhất của sự thay đổi khí hậu đối với con người chính là việc khiến họ phải di chuyển. Điều kiện khí hậu ven biển, hiện tượng xói mòn ven biển gia tăng và mùa màng thất bát là nguyên nhân khiến hàng triệu người phải rời khỏi nơi cư trú của mình. Các số liệu khoa học cho thấy sự thay đổi về khí hậu toàn cầu, Việt Nam sẽ là một trong những nước chịu nhiều thiệt hại nặng nề nhất của sự thay đổi khí hậu[12], trong đó người nghèo, người dân tộc thiểu số, phụ nữ nông thôn, người già và trẻ em chịu sự tác động nặng nề hơn các đối tượng khác. Di cư sẽ trở thành phương thức giúp người dân đương đầu và thích nghi với những thay đổi này bằng cách di cư tạm thời hoặc di cư lâu dài nhằm bảo đảm sự an toàn và ổn định cuộc sống.

Đã có các bằng chứng cho thấy người dân phải di cư đến nơi khác do những điều kiện thay đổi về môi trường, có thể do thiên tai hoặc do tác động của khí hậu diễn ra từ từ[13]. Chẳng hạn nghiên cứu vùng ven biển Miền Trung, năm 2009 di cư chiếm 50,6%, tỷ lệ di cư thuần (xem bảng 4), cho thấy cuộc sống và thu nhập của người dân bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về đất đai, điều kiện khí hậu và nước, nhiều người dân bắt buộc phải di cư đến những vùng có điều kiện sống tốt hơn, coi đây là một phương thức thay thế cho việc mất thu nhập[14]. Ngoài ra, trong phân tích điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004 và 2006 cho thấy có một mối quan hệ giữa thiên tai và những thay đổi đột biến trong sản xuất (các cú sốc trong sản xuất) với xu thế di cư mùa vụ và di dân tự do trong nước[15].

Bảng 4: Tỷ suất nhập cư, tỷ suất di cư và tỷ suất di cư thuần theo khu vực theo số liệu mẫu điều tra của Tổng điều tra dân số năm 1999, 2009

Vùng Tỷ suất nhập cư * Tỷ suất di cư ** Tỷ suất di cư thuần***
  1999 2009 1999 2009 1999 2009
Đông Bắc 16,15 15,9 27,53 33,5 – 11,38 -17,5
Tây Bắc 13,24 14,57 – 1,32
ĐB Sông Hồng 23,28 35,0 32,61 36,7 – 9,33 – 1,7
Duyên hải Miền Trung phía Bắc 8,61

16,0

31,97

50,6

– 23,36

– 34,6

Duyên hải miền Trung phía Nam 17,02 29,74 – 12,71
Tây Nguyên 86,24 43,3 16,22 32,1 70,02 11,2
Đông Nam 68,33 135,4 26,80 27,7 41,53 107,7
Đồng bằng Sông   Mêkông 14,71 16,3 24,59 56,7 – 9,88 – 40,4

* Tỷ suất nhập cư là tỷ số giữa số người nhập cư trên tống số dân địa phương (nghìn)

** Tỷ suất di cư là tỷ số giữa người di cư trên tổng số dân địa phương (nghìn)

*** Tỷ suất di cư thuần là tổng số người nhập cư trừ đi tổng số người di cư trên tổng số dân địa phương (nghìn)

Nguồn: Cu, Chi Loi (2000), di cư nông thôn – thành thị Việt Nam

Tóm lại, động cơ di cư phần lớn (70%) những người di cư trong nước là vì lí do kinh tế, bao gồm cả di cư tìm việc làm và cải thiện điều kiện sống[16]. Tuy nhiên, cũng cần chú ý rằng động cơ di cư của cá nhân và hộ gia đình không mang tính một chiều mà lồng ghép với nhiều yếu tố khác. Tiêu chí động cơ kinh tế có thể xác định yếu tố cụ thể, chẳng hạn tăng thu nhập với vai trò là một chiến lược đối phó, nhằm tăng khả năng an ninh kinh tế hoặc tích lũy những gì thực sự cần thiết[17]. Điều này có thể thấy rằng quỹ đạo kinh tế trong tương lai sẽ có những tác động tương tự đến mô hình di cư trong nước.

3.4. Việc làm và những khó khăn về Y tế:

92% nam di cư đến TP.HCM trong độ tuổi 15-29 đã tìm được việc làm, với nữ chiếm khoảng 88,8%, 96,1%  nam ở tuổi từ 30-44 và nữ 87,4%, chiếm 90,5% là nam độ tuổi 44-59, 52,6% là nữ tìm được việc làm. Với một thị trường lao động có nhu cầu lớn về nhiều ngành nghề nên người di cư trong độ tuổi từ 15-59 đều có thể dễ dàng kiếm việc, điều này tạo nên một sức hút lớn lực lượng từ các vùng khác đổ về TP.HCM. Nếu tính tổng số người di cư ở độ tuổi 15-59 trên toàn quốc di cư đến TP.HCM là có đến 81,9% tìm được việc làm, ở KCN Đông Nam Bộ chiếm đến 91,7%. [TĐTDS,2009].

Số lượng người di cư đến TP.HCM làm việc chủ yếu trong các loại hình kinh tế cá thể, các doanh nghiệp nhỏ (tiểu chủ)- 35,1% và  các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – 30,9% còn lại 27,4% làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân, trong khi đó ở khu vực nhà nước chỉ 5,7%. Trong khi đó nam giới làm việc chủ yếu trong các doanh nghiệp tư nhâ 35,9%, cá thể, doanh nghiệp nhỏ 39,8%, cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài là 16,7%, thì nữ lao động chủ yếu tập trung ở các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài là 41,7%, là việc cho các cá thể nhỏ, doanh nghiệp nhỏ  là 31,5% và doanh nghiệp tư nhân 20,9%. Như vậy, có thể thấy khu vực nhà nước không thu hút sự di cư đến TP.HCM mà là các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp tư nhân và các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài mới là nơi có sức hút chính kéo người di cư đổ về thành phố.

Với nền kinh tế tăng trưởng đều, điều đó đã làm cho TP.HCM thu hút người di cư. Với thu nhập bình quân (xem bảng 5) 985.000/tháng đối với người lao động di cư ở độ tuổi 15-29, 1.304/tháng đối với 30-44 và 1.100/tháng đối với độ tuổi 45-59, trong khi đó nam giới có mức thu nhập cao hơn nữ ở các độ tuổi 1.152/tháng của nam giới so với nữ chỉ có 870/tháng ở độ tuổi 15-29, ở đội tuổi 30-44 là 1.421/1201 và độ tuổi 45-59 là 1.300/1.100.

Bảng 5:  Thu nhập bình quân /tháng (nghìn đồng) của người di cư đến TP.HCM

Nhóm tuổi 15-29 30-44 45-59
Nam 1152 1421 1300
Nữ 870 1201 720
Tổng 985 1304 1100

Nguồn: Tổng điều tra dân số năm 2009.

So sánh mức thu nhập so với trước khi di cư đến TP.HCM cho thấy cao hơn so với trước khi di cư đến – 69,6%, cao hơn nhiều chiếm đến 16,5%, trong khi đó số người trả lời không thay đổi 12,2%. Nam di cư có thu nhập cao hơn nữ nên cũng dễ thấy khi có đến 71,1% trả lời cao hơn so với 68,%. Cao hơn nhiều của nam cũng chiếm đến 17,7% so với 15,6% của nữ. Như vậy, việc thu nhập cao hơn nơi xuất cư chính là một trong nguyên nhân chính dẫn đến người nhập cư lựa chọn di cư đến TP.HCM nhiều hơn so với vùng khác.

Một khó khăn đối với người di cư đến TP.HCM đó là việc đăng kí hộ khẩu rất khó khăn, tạo ra nhiều ảnh đến đời sống của người nhập cư. Việc quản lý hộ khẩu cũng cần có cách tiếp cận thích hợp trong bối cảnh này. Người nhập cư cống hiến sức lao động của mình cho sự phát triển chung của xã hội, vì vậy không thể coi họ là công dân đô thị loại hai. Trong thời gian qua, ở các thành phố lớn đã quá coi trọng hộ khẩu, thường có các biện pháp xử lý dựa vào hộ khẩu. Do đó, những người nhập cư chưa có hộ khẩu thường tiếp cận hạn chế với các dịch vụ cơ bản… Vì vậy, công tác quản lý hộ khẩu cần cải tiến linh hoạt hơn, dễ tiếp cận và không gây phiền hà cho người dân. Trong những năm qua, lợi dụng việc có nhiều người muốn chuyển đến đô thị, khu công nghiệp tìm việc làm, một số cá nhân đứng ra tổ chức cho người di cư và đã lừa gạt người nhập cư với những thông tin sai lệch để trục lợi. Sự tham gia của chính quyền địa phương trong việc ngăn chặn những hành động trục lợi này sẽ giảm đáng kể nguy cơ rủi ro do thiếu thông tin của người di dân.

Người nhập cư mong muốn được chính quyền TP.HCM hỗ trợ đăng kí hộ khẩu nơi cư trú hiện tại chiếm 42,%, đây cũng là một yêu cầu cấp thiết. Khi có hộ khẩu họ mới tiếp cận được các vấn đề khác để ổn định cuộc sống của mình. Một số vấn đề khác mong được quan tâm giúp đỡ đó là về đất đai là 23,6%, nhà ở/42,6%, hỗ trợ vốn/ 47,3%, việc làm, học hành, nâng cao trình độ chuyên môn, sức khỏe là một trong những vấn đề chính mà người nhập cư chưa đăng kí cư trú mong muốn[18]. Với 59,2% số lượng người di cư đến TP.HCM không có bảo hiểm y tế, điều này sẽ làm cho người di cư gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, nhất là những người di cư làm việc trong khu vực phi chính qui, khi gặp đau ốm, bệnh tật, họ chấp nhận rủi ro trong việc tự chữa bệnh, hoặc không chữa bệnh, qua cuộc điều tra cho thấy nữ chiếm đến 52,6% và nam giới 68,5% không có thẻ bảo hiểm y tế[19].

Cuộc khảo sát “Di cư và Sức khỏe” do Viện Xã hội học tiến hành năm 1997, trên địa bàn 6 tỉnh, thành phố, cho biết gần 2/3 người di cư trả lời sức khỏe của họ không kém hơn so với trước khi di cư. Trong khu vực thành thị được điều tra, con số này là 58%. Mặc dù không có sự khác biệt theo giới nhưng tình trạng sức khỏe của người di cư lại khác nhau theo nơi đến và độ dài thời gian di chuyển. Người di chuyển tạm thời được cải thiện nhiều nhất về sức khỏe. Tỷ lệ mắc bệnh không có sự khác biệt giữa các nhóm di cư và nhóm không di cư. Tuy nhiên, khi đau ốm, đại đa số người di cư tìm cách tự chữa trị hoặc thậm chí không làm gì. Trong những người di cư, người di cư tạm thời tự thuốc thang là chính và tỷ trọng đến bác sĩ hoặc cơ sở y tế là thấp nhất. Lý do họ không có khả năng trả các chi phí. Đây chính là trở ngại của việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đối với người dân nhập cư. Việc mua thuốc tự điều trị là rất dễ. Chính vì vậy, rất khó có thể kết luận là lao động đến từ ngoại tỉnh là gánh nặng cho dịch vụ y tế ở thành thị [Viện Xã hội học, 1998].

Nghiên cứu di cư nông thôn-đô thị ở TP.HCM của VanLandingham năm 2004 cho biết, di cư đã có ảnh hưởng đáng kể đến phúc lợi của người di cư trên nhiều lĩnh vực. Người mới nhập cư đều gặp bất lợi hơn so với người bản địa trên sáu lĩnh vực sức khỏe, bao gồm: sinh lý, tâm lý, tình cảm, chức năng vận động, kiến thức và quan niệm về sức khỏe nói chung. Có thể nói rằng di cư nông thôn – đô thị thường mang lại những lợi ích đáng kể về kinh tế cho gia đình ở nhà trong khi những bất lợi về sức khỏe lại do chính người di cư gánh chịu [VanLandingham, 2005].

Thực tế này chứng tỏ ít có khả năng người di cư làm tăng mức sinh ở những nơi họ chuyển đến. Tuy nhiên, các kết quả cũng cho thấy, mặc dù tỷ lệ sử dụng BPTT[20] đã tương đối cao, vẫn có 15% số phụ nữ di cư đã từng nạo hút thai, trong đó số chưa có gia đình chiếm 1/3 [Viện Xã hội học, 1998]. Nếu dịch vụ y tế, đặc biệt là dịch vụ CSSK[21] ban đầu chất lượng thấp thì trẻ em là nhóm bị ảnh hưởng đầu tiên. Hiện nay, các chương trình tiêm chủng cho trẻ em đã được triển khai hiệu quả nên mọi trẻ em có thể được tiêm chủng với chi phí rất thấp hoặc miễn phí mà không cần có đăng ký hộ khẩu hay các thủ tục phức tạp. Nhờ vậy, hầu hết trẻ em di cư dưới 5 tuổi đều được tiêm chủng (94,6% người di cư tạm thời, 96,7% người di cư lâu dài). Đa số trường hợp trẻ em chưa được tiêm chủng là do còn quá nhỏ (Nguyễn ĐứcVinh, 1998). Người không di cư có mức độ hiểu biết về nguyên nhân lây nhiễm cao hơn người di cư. Mức độ hiểu biết kém nhất là nữ di cư. Với nguyên nhân chính mắc STI[22] như sau: Không giữ vệ sinh bộ phận sinh dục, chiếm 44,7%, sinh hoạt tình dục với nhiều người mà không dùng BCS chiếm 79,4%, sinh hoạt tình dục với người mắc các bệnh STI mà không sử dụng BCS chiếm đến 78% [TĐTDS,2009].

Trong đó nữ di cư, không giữ vệ sinh bộ phận sinh dục, chiếm 48,3%, sinh hoạt tình dục với nhiều người mà không dùng BCS chiếm 76,8, sinh hoạt tình dục với người mắc các bệnh STI mà không sử dụng bao cao su chiếm đến 76,3%. Với nam giới, không giữ vệ sinh bộ phận sinh dục, chiếm 39,8%, sinh hoạt tình dục với nhiều người mà không dùng BCS chiếm 80,3%, sinh hoạt tình dục với người mắc các bệnh STI mà không sử dụng bao cao su chiếm đến 80,2% [TĐTDS,2009].

Đối với người di cư mức độ hiểu biết về bảo vệ sức khỏe thấp, điều này chứng minh qua con số của cuộc điều tra trên. Cần nhấn mạnh rằng, nhóm người di cư đến TP.HCM, mức độ hiểu biết về nguyên nhân lây truyền các bệnh này tương đối thấp, nguyên nhân là không được tiếp cận đầy đủ thông tin.

3.5. Một số vấn đề liên quan đến việc làm, sức khoẻ của người di cư.

Tại Việt Nam, tỷ lệ tăng dân số thành thị – nông thôn ngày một chênh lệch.
Năm 1999-2009, dân số thành thị đã tăng lên với tỷ lệ bình quân là 3,4%. Trong khi đó,
ở khu vực nông thôn, tỷ lệ tăng dân số chỉ có 0,4% (1999, tỷ lệ dân số thành thị
chiếm 23,5%. Trong số 9,4 triệu người tăng thêm từ năm 1999-2009, có đến 7,3 triệu
người chiếm 77% tăng lên ở khu vực thành thị).

Theo thống kê của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), người di cư nông thôn chiếm tới 1/3 dân số của TP.HCM và 1/10 dân số của Hà Nội và làn sóng này vẫn đang tiếp tục tăng không ngừng. Ảnh hưởng của quá trình tăng dân số đô thị đến vấn đề đô thị hóa, hình thành các đô thị mới và siêu đô thị.

Số liệu tổng điều tra dân số năm 1999 cho rằng di cư tới các khu vực đô thị chiếm hơn một nữa tổng số di cư trong nước của Việt Nam với 53%, trong đó 27%  di cư từ khu vực nông thôn ra thành thị và 26% di cư giữa các khu vực thành thị. Đối với người di cư từ nông thôn ra thành thị, các nơi đến phổ biến là TP.HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng. Dòng di cư tới các khu vực này chiếm 1/3 mức tăng dân số của khu vực đô thị trong giai đoạn 1994-1999. Với TP.HCM và Hà Nội, số dân di cư tăng gấp đôi tăng gấp đôi dân số ở 2 thành phố này[23]. Gần đây di cư góp phần phát triển các thành phố địa phương như Cần Thơ, Long Xuyên, Cà Mau tại khu vực ĐB.SCL và các trung tâm kinh tế, Quảng Ninh, Bình Dương và Đồng Nai.

Di cư trong khu vực nông thôn cũng đóng góp một phần không nhỏ vào di cư trong nước, chiếm 47% dòng di cư trong nước trong cuộc tổng điều tra dân số năm 1999. Thực tế điều tra biến động dân số năm 2008 cho thấy dòng di cư trong nước tới khu vực nông thôn cao hơn di cư tới các khu vực thành thị trong năm trước cuộc điều tra [24]. Chẳng hạn có những sự di chuyển đáng kể từ vùng đông dân tạo ĐB.SH ở Miền Bắc đến khu vực Tây Nguyên[25]. Dòng di cư tạm thời và di cư mùa vụ từ nông thôn – nông thôn thường là những người di cư làm việc trong các KCN, lao động di cư đến địa bàn dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, nơi xây dựng cầu đường, nhà máy và các phương tiện giao thông khác[26]

Tình trạng thất học, thất nghiệp và phân hoá giàu nghèo tăng cao. Trong quá trình hội nhập và phát triển, người dân đô thị cần có trình độ văn hoá tay nghề cao để tiếp cận với
khoa học kỹ thuật – công nghệ và đáp ứng với nhu cầu tuyển dụng lao động. Song thực tế
cho thấy ở các đô thị và các vùng ven đô vẫn còn một bộ phận không nhỏ những người
thất nghiệp, trình độ học vấn thấp. Đây chủ yếu là những lao động giản đơn di cư
từ khu vực nông thôn lên thành thị để kiếm việc làm. Phần lớn trong số họ chỉ tìm được
công việc giản đơn trong các KCN, KCX ở gần thành thị, một số khác
kém may mắn hơn phải lang thang tìm kiếm công việc không ổn định trong nội thị với
thu nhập ít ỏi. Nhiều vấn đề phát sinh cũng bắt nguồn từ đây, khi thu nhập của người lao
động không đủ tích lũy để gửi về gia đình như kỳ vọng trước đó.
Tổng cục Thống kê nhận định, trong số lao động di cư, có tới 2/3 là lao động trẻ (15-19
tuổi); hơn 50% là di cư để tìm việc làm, 47% là để cải thiện điều kiện sống. Một điều tra
khác của Viện Khoa học lao động và xã hội cũng cho thấy, trong các doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỷ lệ lao động ngoại tỉnh chiếm tới 70%. Tính đến tháng
12/2007 cả nước có hơn 170 KCN, KCX phân bổ ở 55 tỉnh, thành trên
cả nước với khoảng trên 1 triệu người lao động đang làm việc, trong đó có 700.000 người
lao động di cư từ các tỉnh khác hoặc huyện khác đến[27].
Do chỉ được hưởng mức lương thấp, lại phải làm việc vất vả nên số lao động di cư này dễ
nảy sinh những bất đồng và có những hành động thiếu kiềm chế. Trình độ dân trí chưa
cao và chênh lệch giữa các thành phần dân cư, đặc biệt là ngoại ô so với nội ô. Đây là sự
bất ổn đối với chủ trương phát triển một xã hội đô thị công bằng, ổn định và văn minh.

Sức khỏe của người dân đô thị ngày càng giảm do các tệ nạn xã hội gia tăng kéo theo các bệnh dịch như HIV, giang mai và tình trạng ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe dân cư thành phố. Những bệnh truyền nhiễm phổ biến ở các nước đang phát triển như sốt rét, sốt xuất huyết, tả, thương hàn hay các bệnh của những quốc gia công nghiệp phát triển, như tim mạch, tăng huyết áp, ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp…, gần đây bệnh chân tay miệng đã có tác động xấu đến đời sống của các em nhỏ vùng ven đô, do sự suy thoái môi trường đô thị tác động xấu đến những người nghèo sống trong các khu ổ chuột và xóm liều do mật độ dân số cao, thiếu các dịch vụ vệ sinh và sức khỏe công cộng.

Người di cư trong nước hình thành một mạng lưới mạnh mẽ cho chính họ, hướng dẫn việc tiếp tục di cư bằng cách lối kéo bạn bè và gia đình từ quê hương. Điều tra di cư năm 2004 cho thấy rằng 55% nam di cư và 59% nữ di cư biết về nơi đến của họ của họ từ một người bà con, và 38% nam và nữ di cư biết nơi đến từ bạn bè (với 7% nam giới và 3% nữ giới biết về nơi đến thông qua các phương tiện khác).

3.6. Một số vấn đề liên quan đến mạng lưới di cư đô thị.

Những mạng lưới này của người di cư tại nơi đến đặc biệt quan trọng đối với người di cư, do tình trạng chưa đăng kí hộ khẩu hoặc đăng kí hộ khẩu tạm trú, họ không kết nối được với hệ thống của chính phủ và hỗ trợ chính thức khác và họ gặp khó khăn khi tiếp cận các tổ chức quần chúng. Thường thì thời gian làm việc kéo dài của họ cũng không cho phép họ tham gia các hoạt động xã hội hoặc tham gia các cuộc họp của quần chúng[28] và sự hiểu biết của họ về tổ chức công đoàn là rất thấp[29].

Đối với người di cư đến TP.HCM, họ đánh đổi cuộc đời để đi tìm những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống. Để đối mặt với nhưng thách thức của cuộc sống, họ chủ yếu nhờ vào người thân, họ hàng, đồng hương, bạn bè và chính quyền địa phương và công đoàn, tổ chức nơi làm việc, 57.7% nam giới co nhận sự giúp đỡ, trong khi đó nữ chiếm đến 60.9%. Với mối quan hệ bạn bè đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định di cư đó là 55% nam giới nhờ bạn bè, nữ chiếm đến 55.9%, nhờ người ruột thịt chiếm đến 33.9% của nam giới và nữ chiếm 30.1%. Đồng hương cũng nắm vai trò quan trọng trong việc di cư khi có đến 14.7% nam giới nhờ đồng hương giúp đỡ, nữ giới cũng chiếm 19.6%. Họ hàng cũng giúp trong việc tác động đến hiện tượng di cư, khi có đến 33% nam giới và 31.5% nữ giới nhờ đến họ hàng giúp đỡ. Trong khi đó vai trò của công đoàn và cơ quan và tổ chức làm việc không có bóng dáng trong việc tác động, hỗ trợ và giúp đỡ người di cư. Như vậy, mạng lưới xã hội không chính thức như họ hàng, bạn bè, đồng hương, đóng vai trò quan trọng trong việc di dân, ít nhất mạng lưới xã hội đã giúp cho người di dân tiềm năng về thông tin trước khi di chuyển. Sau khi di chuyển mạng lưới giúp cho họ người di cư việc làm, nhà ở và các sự giúp đỡ khác. Những người giúp cư có xu hướng sống tập trung ở khu vực có đông bà con họ hàng, người thân, ví dụ, người Quảng Nam tập trung chủ yếu ở khu Bảy Hiền, Tân Bình[30], tập trung sinh sống, giúp đỡ những người đến sau hòa nhập cuộc sống. Có thể khẳng định, liên kết yếu mới chính là các liên kết tạo ra nhiều vốn xã hội hơn các liên kết mạnh, liên kết yếu hiện hữu hoá những nguồn lực xã hội không nhìn thấy.

V. Kết luận và một số khuyến nghị với vấn đề di dân tại TP.HCM:

  1. a.     Kết luận:

Di cư là một phần quan trọng và không thể tách rời trong phát triển kinh tế xã hội Việt Nam. Bằng việc đáp ứng hết nhu cầu lao động trong phát triển công nghiệp và đầu tư nước ngoài khi thực hiện quá trình Đổi mới và bằng việc gửi một phần tiền mình kiếm được tới khu vực nghèo hơn của Việt Nam, di cư đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam và có thể góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo.

Các tác động di cư không bó hẹp trong những người di chuyển. Các bằng chứng nêu trên cho thấy di cư ảnh hưởng tới một số lượng không nhỏ đối với các hộ gia đình ở tất cả các khu vực của Việt Nam, phần lớn người di cư cho thấy cuộc sống mình khá lên sau di cư. Chính vì vậy di cư tạo nên những cơ hội trực tiếp cho sự phát triển rộng khắp và đồng đều hơn qua đó sự khác biệt giữa các vùng giảm xuống. Di cư đến TP. HCM rất đa dạng; lâu dài hay thời gian ngắn, đi và quay về thường xuyên, di cư để tăng thu nhập thời vụ, di chuyển để kiếm tiền gửi về cho gia đình, di cư đến do sự thay đổi môi trường. Có một điểm chung giữa các loại hình di cư đó là tài xoay xở và thích nghi của các cá nhân và hộ gia đình khi di chuyển.

Quyết định di cư đến TP.HCM là một sự đánh đổi cuộc đời, với mục đích để có cuộc sống tốt đẹp hơn. Với lí do kinh tế, người di cư đã không thể lường hết một thay đổi ở nơi đến, nên muôn nẻo khó khăn vẫn đang chực chờ họ.

Với lượng người di cư trẻ, trong độ tuổi lao động di cư đến TP.HCM là một cơ hội tốt những cũng là một thách thức, TP.HCM vẫn là sự lựa chọn ưu tiên cho việc chọn nơi đến, và số lượng tăng đều hàng năm. Đã đến lúc xem người di cư là một thành phần của đô thị và chuẩn bị các chính sách dành cho họ, để họ yên tâm lao động và đóng góp vào sự phát triển chung của toàn thành phố.

  1. b.     Một khuyến nghị đối với vấn đề di dân tại TP.HCM

–                Cần nhìn nhận di cư đóng vai trò trong việc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế nên hạn chế việc di cư, cần một chính sách tập trung để tối ưu hóa các lợi ích tiềm năng của di cư cho bản thân người di cư và cho xã hội nói chung. Cải cách hệ thống đăng ký hộ khẩu, hạn chế các yêu cầu về hộ khẩu trong việc đăng kí các dịch vụ, cải thiện chính sách nhà ở xã hội, luật lao động, luật bảo trợ xã hội, y tế và các chương trình xóa đói giảm nghèo, nhằm đảm bảo sự tiếp cận công bằng cho tất cả mọi công dân Việt Nam cho dù họ là người dân tạm trú hay thường trú.

–                Cần nhìn nhận di cư là động lực cho phát triển đô thị, cơ quan chính quyền không thể làm ngơ trước áp lực gia tăng lên cơ sở hạ tầng và dịch vụ, nên cần lập kế hoạch cho đối tượng nghèo đô thị vào kế hoạch phát triển chiến lược của thành phố, quốc gia, lưu tâm đến người di cư tạm thời, không đăng kí bao gồm phụ nữ, nam giới, trẻ em.

–                Hạn chế dòng di cư nông thôn-thành thị.
Tạo các điều kiện tốt nhất cho dân cư đô thị bằng cách; tăng cường giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của người dân. Tiến hành qui hoạch nơi ở tại các KCN, khu đô thị mới của thành phố. Xây dựng lối sống văn minh đối với cư dân đô thị, quản lý tốt hơn đối với dân nhập cư, góp phần lập lại trật tự xã hội đảm
bảo cho việc xây dựng xã hội đô thị ổn định, bền vững.

–                Hoàn thiện và phát triển mạng
lưới cơ sở hạ tầng đô thị, giao thông đường bộ thuận tiện, không ách tắc và ít gây ô
nhiễm môi trường. Nâng cao nhận thức cho cộng đồng về tầm quan trọng của môi trường đối
với sức khoẻ và chất lượng cuộc sống. Công khai các thông tin, số liệu liên quan đến tình
hình ô nhiễm và các nguồn gây ô nhiễm môi trường trên các phương tiện truyền thông để
nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường sống trong đô thị. Ưu tiên phát triển giao thông công cộng, đặc biệt là các phương tiện giao thông công
cộng hiện đại, không gây ô nhiễm.

–                Để bảo vệ sức khoẻ cho người di cư cần giải quyết đồng bộ nhiều giải pháp chứ không phải chỉ là phát triển hệ thống y tế. Chú ý ngay đến nguồn nước, công trình vệ sinh và nhà ở. Cần tiếp tục tuyên truyền sâu rộng hơn nữa kiến thức về CSSK không những cho người lao động di cư mà cho cả các thành viên khác trong gia đình họ.

–                Khuyến khích các gia đình quan tâm, chăm sóc sức khoẻ của người di cư trong độ tuổi lao động, nhất là những người chịu trách nhiệm chính về kinh tế của gia đình và động viên những người di cư cần giúp đỡ người thân của họ cả về thông tin và kiến thức chăm sóc sức khoẻ

–                Để bảo vệ sức khoẻ cho người di cư cần giải quyết đồng bộ nhiều giải pháp chứ không phải chỉ là phát triển hệ thống y tế. Trong đó, ở những nơi tập trung người di cư, cần đặc biệt chú ý ngay đến nguồn nước, công trình vệ sinh và nhà ở.

-Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho người di cư về các bệnh STI. Các cơ quan chịu tránh nhiệm về vấn đề này cần tập trung vào cả hai nơi nhập cư và xuất cư. Thay đổi chiến lược truyền thông về HIV/AIDS, từ cho là hiểm hoạ sang cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ.

–                Cần phải đẩy mạnh tuyên truyền về nghĩa vụ và quyền lợi khi mua bảo hiểm y tế. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ quy định của Nhà nước về BHYT, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm. Tạo điều kiện thuận lợi để người lao động hoặc người sử dụng lao động dễ dàng mua BHYT.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

 

  1. Mark VanLandingham (2005). Impacts of rural to urban migration on the health of working-age adult migrants in Ho Chi Minh city, Vietnam. XXV International Population Conference – Tours, France – July, 2005.
  2. Nguyễn Văn Minh, Phó trưởng ban văn hóa-xã hội, HĐND TPHCM, 2010.
  3. Nguyễn Đức Vinh (1998). Tình trạng sức khỏe và điều kiện chăm sóc y tế của người di cư. Báo cáo Hội thảo Di dân và Sức khỏe tại Việt Nam – Viện Xã Hội học. Hà Nội 15-17/12/1998.
  4. Ths. Lê Văn Thành, Đô thị hóa và vấn đề dân nhập cư tại TP.HCM, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, 2008.
  5. http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/393529/Nhung-noi-dau-xe-long.html
  6. Viện Xã Hội học, Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc, Đại học tổng hợp Brown (1998). Di dân và Sức khỏe tại Việt Nam. Báo cáo hội thảo. Hà Nội – Việt Nam. 15-17/12/1998.


[1] Báo cáo điều tra dân số và nhà ở năm 2009.

[2] KT3 đăng ký tạm trú – người di cư sinh sống độc lập hoặc với người thân, không có hộ khẩu thường trú song được đăng ký tạm trú dài hạn từ 6 đến 12 tháng, với khả năng được gia hạn tiếp tại nơi hiện đang cư trú. KT4 người di cư sống trôi nổi, ở các nhà khách hoặc nhà trọ, không có hộ khẩu thường trú, chỉ đăng ký tạm trú từ 1 đến 3 tháng hoặc thậm chí không đăng ký tại nơi cư trú.

[3] Ngân hàng thế giới (2008), Báo cáo phát triển của Việt Nam năm 2008: Bảo trợ xã hội: Báo cáo của các nhà đồng tại trợ trong cuộc họp nhóm tư vấn Việt Nam, Hà Nội, ngày 6-7/12/2008.

[4] TS. Lê Thanh Sang, Đô thị hóa và cấu trúc đô thị Việt Nam trước và sau đổi mới 1979-1989 và 1989-1999, NXB KHXH-2008.

[5] TS. Nguyễn Thị Hồng Xoan, Bài giảng Cao học Xã hội học dân số, 2011, ĐH KHXH&NV TP.HCM.

[6] Đồng Bằng Sông Hồng.

[7] Không xác định được số liệu chính thức.

[8] Đồng Bằng Sông Cửu Long.

[9] TP.HCM và Hà Nội: Dân số và di chuyển nội thị, Patrick Gubry, Lê Văn Thành, Nguyễn Thị Thiềng và cộng sự, 2002

[10] Điều tra về Nguồn Lao động tại TP.HCM, Liên đoàn Lao động TP.HCM,2010

 

[11] TS. Lê Thanh Sang, Đô thị hóa và cấu trúc đô thị Việt Nam trước và sau đổi mới 1979-1989 và 1989-1999, NXB KHXH-2008.

[12] Liên hợp quốc tại Việt Nam (2009), Việt Nam và sự biến đổi khí hậu: bài thảo luận về chính sách cho phát triển nhân lực bền vững

[13] Dun Olivia (2009), “Quan hệ giữa lũ lụt, di cư và tái định cư” báo cáo nghiên cứu tình huống ở Việt Nam về thay đổi khí hậu và các kịch bản di cư bắt buộc (EACH-FOR), trang 18.

[14] Vũ Quang Hoàng, và cộng sự. (2008) Nghiên cứu tác động của thay đổi khí hậu lên Nông nghiệp và an ninh lương thực: nghiên cứu tình huống của Việt Nam, Actionaid.

[15] Nguyễn Minh và Paul Winters (2009), Tác động của di cư lên Dinh dưỡng: trường hợp của Việt Nam.

[16] GSO, Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc, 2005, Điều tra di cư năm 2004; Các kết quả chủ yếu, NXB Thống kế, Tổng cục Thống kê.

[17] Winkels, Alexvara (2009), Sự yếu thế của người dân di cư: Vai trò chưa rõ ràng của các mạng lưới xã hội. Bài viết trình bày tại hội thảo Quốc gia có di cư, Canberra từ 19 – 20/11/2009.

[18] Nguồn: Tổng điều tra dân số năm 2009.

[19] Nguồn: Tổng điều tra dân số năm 2009

[20] Biện pháp tránh thai

[21] Chăm sóc sức khỏe

[22] Sexually transmitted infections – Bệnh lây truyền qua đường tình dục.

[23] TCTK & UNFPA (2005), Điều tra di cư Việt Nam năm 2004; các kết quả chủ yếu, NXB Thống kê, Tổng cục Thống kê.

[24] Lưu ý rằng các dữ liệu không mang tính so sánh vì tổng điều tra định nghĩa di cư là người đi khỏi nhà trong thời gian 5 năm trong khi đó Bộ Công an lại sử dụng khung thời gian là 1 năm.

[25] Deshingkar, Priya và Grimm Sven (2009), Di cư trong nước và phát triển: Khía cạnh toàn cầu, Loạt bài viết nghiên cứu về di cư, Số 19. IOM.

[26] ADB và IOM (2009),Cơ sở hạ tầng và HIV tại tiểu vùng sông Mê kông: Đánh giá các tài liệu hiện hành.

[27] Số liệu thống kê năm 2007
 theo Tạp chí Ban Tuyên giáo.

[28] ILSSA, UNIFEM và AusAid (2009), Những ảnh hưởng kinh tế xã hội của việc gia nhập Tổ chức thương

mại thế giới đối với phụ nữ nông thôn.

[29] ActionAid Viet Nam và Oxfam (2009), Giám sát có sự tham gia về vấn đề nghèo đói ở thành thị Việt Nam.

This entry was posted in Dân số đô thị, Kinh tế đô thị, Lối sống đô thị, Môi trường và các vấn đề xã hội, Xã hội học đô thị, Xã hội Việt Nam, Đô thị học. Bookmark the permalink.

10 Responses to DI CƯ NÔNG THÔN – ĐÔ THỊ – THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI CHO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

  1. Jenly says:

    Xin chào, mình đang có một bài thuyết trình môn Xã hội học, về đề tài Đời sống của công nhân nhập cư tại các khu công nghiệp ở tp HCM (ngày 23/12 thuyết trình). Bạn có thể cho mình những tài liệu liên quan mới nhất được không?
    Như tài liệu :
    Điều tra về Nguồn Lao động tại TP.HCM, Liên đoàn Lao động TP.HCM,2010
    Cảm ơn rất nhiều !

  2. Hiện tại thì không có số liệu 2010. Bạn có thế tìm trên trang website của Viện Kinh tế phát triển TP.HCM.

    Chúc bạn thành công.

  3. Ngo Thu Trang says:

    Thanh oi, Trang đây, bai Tah2nh viết rết hay. Nêu được vấn đề của dân nhập cư và là chủ đề mở để thấy mối liên quan giữa dân nhập cư và vấn đề văn hoá xã hội ven đô

    • Chào Trang, do không đủ thời gian nên không mở rộng ra vấn đề văn hoá xã hội ven đô Trang à. Khoẻ không, công việc thế nào, đã làm xong TS chưa Trang ???

  4. Hồ Phùng Ngọc Thảo says:

    Em chào anh
    Em đang viết 1 bài về vai trò của bộ máy quản lý đô thị trong việc quản lý dân nhập cư, nhưng em tìm được rất ít tài liệu. Anh có biết những nguồn tài liệu nào liên quan có thể giới thiệu cho em một số được không ạ. Em cảm ơn anh.

    Ngọc Thảo

  5. Hồ Phùng Ngọc Thảo says:

    Em chào anh

    Em đã nhận được các tài liệu anh gửi, em cảm ơn anh. Anh có hoặc biết những tài liệu nào liên quan đến quản lý đô thị về dân nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện biến đổi khí hậu không ạ, vui lòng cho em xin hoặc giới thiệu cho em thêm một ít nữa. Em cảm ơn anh

    Ngọc Thảo

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s