Đại đô thị: sự khủng hoảng và tháo gỡ


 

 

Đoàn Việt Nam trình bày tham luận tại hội thảo

TTCT – Có thể sẽ là quá lời như tiến sĩ David Wilson, người New Zealand, nói về “sự cáo chung của các đại đô thị”. nhưng quả thật số phận nhiều triệu người dân ở các đại đô thị không nằm trong tay Thượng đế, không nằm trong tay nhân dân mà nằm trong tay các nhà chính trị.

 

Cuối thế kỷ 20, việc xây dựng các đại đô thị ở những nước đang phát triển trung bình hay thế giới thứ ba (theo cách gọi của người Trung Quốc) trở thành một hiện tượng và xu thế mạnh mẽ. Các nhà chính trị và quản lý châu Á, mà đại diện là Trung Quốc, cho rằng đại đô thị là sự phát triển cần thiết của các nước nghèo. Chính các đại đô thị này là nơi tập trung năng lực kinh tế và nguồn nhân lực của cả nước vào một khu vực hẹp, được nhân lên để trở thành các động cơ thúc đẩy kinh tế của cả khu vực đi nhanh hơn.

Bế tắc và thách thức

 

Một cuộc hội thảo kéo dài ba ngày (2 đến 4-11-2008) của các đô thị trong khu vực châu Á -Thái Bình Dương diễn ra tại Phố Đông, Thượng Hải, Trung Quốc. Gần 100 đại biểu của 20 thành phố đã thảo luận về các vấn nạn, số phận các đại đô thị hiện nay và tương lai. Trong số này có mặt các đại đô thị như Mexico City, Thượng Hải, Bắc Kinh, Metro Manila, TP.HCM, Bangkok, Bandung, Mumbai, Kuala Lumpur, Santiago…

 

Nhưng sau hơn 30 năm, tiếng nói của những người chủ thuyết về đại đô thị không còn mạnh mẽ nữa, bởi thực tế cho thấy dù đại đô thị có mang lại hiệu quả kinh tế với nhiều con số thì hiển nhiên kinh tế chưa phải là tất cả: hệ quả xấu về môi trường tự nhiên như ô nhiễm nguồn nước, sự chết của sông suối, đất đai bị xơ cứng, rừng bị tàn phá; về môi trường xã hội như tội phạm, xung đột xã hội, gia đình tan vỡ… để lại quá nặng nề. Nếu nhìn lâu dài, di chứng của nó còn hành hạ đến nhiều đời con cháu mai sau mà việc khắc phục rất tốn kém, có những giá trị văn hóa truyền thống khi mất đi và cộng đồng xã hội đã tan rã thì không thể phục hồi cho dù bỏ ra bao nhiêu tiền cũng vô vọng.

Rất có thể hiệu quả kinh tế tức thời mang lại là dương cho 3-5 năm, nhưng sẽ là âm sau hàng chục năm nữa (giống việc lạm dụng quá nhiều thuốc kháng sinh). Rõ ràng sự mất mát vô hình lớn hơn nhiều so với những mất mát đo đếm được. Cho đến nay có một số lĩnh vực mà không một đại đô thị nào giải quyết dứt điểm được là tắc nghẽn giao thông, ngập nước nội thị (những thành phố ven biển), thiếu nhà ở, ô nhiễm khói bụi, quá tải dân số. Đó là những vấn nạn truyền thống giống các bệnh kinh niên gắn với cơ thể các đại đô thị cho đến mãi mãi.

Bên cạnh đó, phải kể đến những hệ quả cực xấu mỗi khi rủi ro xảy ra cho đại đô thị. Các rủi ro này nghiêm trọng hơn ở nông thôn, chẳng hạn như việc ngập nước ở Hà Nội được các đại biểu bàn đến (thời gian ngập nước ở Hà Nội diễn ra cùng lúc với hội thảo) hay một nhà máy hóa chất ở Cát Lâm làm rò rỉ hơn 100 tấn hóa chất vào sông Tùng Hoa ngày 13-11-2007 khiến hơn 4 triệu dân của thành phố Cáp Nhĩ Tân (thủ phủ tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc) đói khát trong suốt một tuần lễ. Hội thảo đã chỉ ra ít nhất hai thách thức mang tính toàn cầu có tính sống còn đặt ra trước tất cả các đại đô thị là:

• Hơn 90% các đại đô thị nằm ngay bên bờ biển và các con sông nối trực tiếp ra biển lớn, vậy khi nước biển dâng cao thì ứng xử như thế nào? Sẽ tiếp tục cư trú tại chỗ theo cách “sống chung với biển” hay là “nước dâng đến đâu thụt lui vào đất liền đến đó”? Điều này không còn là kịch bản do các nhà khí hậu bịa ra mà là điều chắc chắn. Khi nước biển dâng lên 0,7-1m thì 49% diện tích của TP.HCM nằm dưới mặt nước biển. Việc di dời hay thích nghi hoàn cảnh tại chỗ với một thị trấn đã khó, và nó sẽ là một thách thức quá sức với một thành phố có 7-10 triệu dân.

• Các đại đô thị tiêu tốn quá nhiều năng lượng. Cách đây 30 năm máy điều hòa nhiệt độ là xa xỉ, nay nhìn vào bất cứ tòa nhà nào thì đập vào mắt người ta trước tiên là hàng trăm hộp vuông tỏa lạnh vào trong và nhả nóng ra bên ngoài. Các cao ốc ngày càng nhiều, càng cao to và càng kín mít bởi các lớp kính màu, nhôm cao cấp bọc xung quanh trong khi các mỏ dầu cạn kiệt. Các con sông không còn chỗ để đặt đập nước nữa. Sử dụng nhiên liệu sinh học thì tác động đến an ninh lương thực.

Vậy lấy gì nuôi các đại đô thị hoành tráng này mãi? Đến khi năng lượng không còn đủ cung cấp cho các đại đô thị thì sẽ phải làm như thế nào? Tình hình này đang diễn ra ở Trung Quốc, Việt Nam, các con sông từ đầu nguồn đến cuối nguồn dày đặc các đập thủy điện đến mức những thành phố ở hạ lưu phải nín thở mỗi khi các đập xả nước.

Đi tìm lối thoát

 

Một góc của Phố Đông, Thượng Hải, Trung Quốc

 

Hiện nay chỉ có Trung Quốc, Việt Nam còn theo đuổi mô hình đại đô thị, các nước khác bắt đầu chuyển hướng phát triển chọn các đô thị trung bình và nhỏ từ cuối thế kỷ 20. Những hình mẫu đô thị như Phố Đông của Trung Quốc, Seoul của Hàn Quốc hay Singapore không còn hấp dẫn, bởi lẽ chúng tỏ ra không thực tế với những nước đang phát triển.

Ai cũng thừa nhận Singapore là một hình mẫu hoàn thiện nhưng nó như một thứ hàng hóa xa xỉ bày trong tủ kính của một đảo quốc nhỏ bé, dân số ít dễ bề kiểm soát, các chính sách cho dù khó chịu mấy cũng có thể thực hiện được, ví dụ như đánh thuế cực cao để hạn chế xe hơi cá nhân. Phố Đông thật kỳ vĩ, hoành tráng nhưng nó là sản phẩm của một Trung Quốc hùng mạnh đang muốn phô trương sức mạnh và vị thế trên trường quốc tế.

Rốt cuộc Kuala Lumpur được các nhà đô thị học coi là tốt hơn cả. Nó không quá lớn (250km2), dân số vừa phải (1,8 triệu người) và các tiêu chuẩn đô thị đều ở mức chấp nhận được. Mặc dù Kuala Lumpur chưa phải là tốt mọi mặt, nhưng có thể coi nó là mẫu số chung để học tập cho các thành phố có thu nhập dưới 5.000 USD người/tháng. Đây là thành phố có tỉ lệ cây xanh cao nhất, tội phạm thấp nhất, môi trường xã hội an lành nhất ở Đông Nam Á (không kể Singapore).

Một cách tháo gỡ hợp lý cho các đại đô thị hiện hữu mà những nhà nghiên cứu gợi ý cho các nhà chính trị là chuyển các đại đô thị sang vùng đô thị đa trung tâm, đa cực bằng cách hình thành một loạt thành phố cấp 2, cấp 3, các thị trấn và thị xã trong nội vùng đại đô thị để tạo ra vô số nút thắt trong một mạng lưới rộng lớn. Người dân khi trước chỉ hướng đến một trung tâm (như TP.HCM) thì nay hướng đến một trung tâm riêng của khu vực mà vẫn đảm bảo thỏa mãn được các nhu cầu thiết yếu.

NGUYỄN MINH HÒA – SƠN THANH TÙNG
(Bộ môn đô thị học,   ĐH KHXH&NV TP.HCM)

 

This entry was posted in PGS.TS. Nguyễn Minh Hòa, Xã hội học và các vấn đề xã hội, Xã hội học đô thị, Đô thị học. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s