Đô thị hóa giả tạo


// Thứ Bảy, 11/12/2010, 17:18 (GMT+7)

TTCT – Tại hội thảo “Đô thị ven biển VN với biến đổi khí hậu” do Viện Kiến trúc – Hội Kiến trúc sư VN tổ chức tuần qua tại Đà Nẵng, PGS.TS.KTS Trần Trọng Hanh (Trường ĐH Nguyễn Trãi Hà Nội), ủy viên thường vụ Hội Kiến trúc sư VN, cho rằng đô thị VN đang đối mặt với nguy cơ phát triển không bền vững.

TTCT trích đăng ý kiến của ông về “đô thị hóa giả tạo”.

 

Thiên tai tàn phá dữ dội ở các tỉnh miền Trung. Trong ảnh: đoạn kè đường ven biển Cửa Đại (Hội An, Quảng Nam) bị sóng biển gây sạt lở trong đợt lũ tháng 10-2009 – Ảnh: V.Hùng

Đô thị hóa “nóng”

Dân số đô thị VN từ 11,8 triệu người (năm 1986) tăng lên 25,3 triệu người (năm 2009) đưa tỉ lệ đô thị hóa cả nước từ 19% lên 29,6%. Mạng lưới đô thị VN không ngừng mở rộng trên 754 đô thị (năm 2009). Sự bùng nổ dân số và gia tăng nhanh chóng dân số đô thị, trong đó phần đáng kể là dân di cư từ nông thôn ra thành thị, tuy tạo ra triển vọng tăng trưởng kinh tế nhưng khoảng 70% dân số sống ở nông thôn đang rơi vào tình trạng khó khăn. Tỉ lệ hộ nghèo cả nước còn cao khoảng 14%.

Đô thị hóa “nóng”, bên cạnh những tích cực, đang mang lại những “căn bệnh đô thị” như: khai thác, sử dụng lãng phí tài nguyên chiến lược (đất, nước, rừng, khoáng sản) có nguy cơ cạn kiệt; hơn 50% số hộ đang sống trong điều kiện nhà ở không đạt tiêu chuẩn; thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu là giao thông, cấp nước, thoát nước, cấp điện, chiếu sáng, xử lý chất thải…, trong khi nguồn lực đáp ứng nhu cầu còn hạn chế; môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, vệ sinh an toàn dân cư không được đảm bảo; thiên tai tàn phá dữ dội, đặc biệt là khu vực miền Trung, miền núi phía Bắc và vùng ven biển.

Một số địa phương cho rằng đô thị hóa là quá trình nông dân di cư vào đô thị, dân số đô thị gia tăng, quy mô đô thị mở rộng. Thật ra dân số tập trung chỉ là đặc trưng bên ngoài của đô thị hóa. Sự thay đổi phương thức sản xuất mới là động lực căn bản của đô thị hóa, còn sự thay đổi phương thức sinh hoạt là hệ quả của đô thị hóa. Xu hướng biến “tỉnh thành đô thị” đang phổ biến ở một số địa phương.

Xem nhẹ chất lượng đô thị

Đường lối đô thị hóa bị hiểu sai lệch. Năm 1998, Chính phủ đã xác định đường lối đô thị hóa của đất nước phải đảm bảo phát triển cân đối giữa các đô thị lớn, vừa và nhỏ, từng bước hình thành đô thị hợp lý trên địa bàn cả nước (QĐ số 10/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).

Nhưng khi nghiên cứu quy hoạch tổng thể xây dựng hệ thống đô thị trên địa bàn các tỉnh, chính quyền địa phương không quan tâm đến điều kiện của từng khu vực, nôn nóng muốn xây dựng hệ thống đô thị của địa phương mình vượt quá khả năng, dẫn đến đường lối đô thị chủ quan duy ý chí.

Việc phân loại, nâng cấp đô thị ở đa số các địa phương còn nặng về hình thức dẫn đến đảo ngược quan hệ nhân quả giữa đô thị hóa và phát triển kinh tế. Động lực cơ bản của đô thị hóa là công nghiệp hóa, còn đô thị hóa phải là kết quả của công nghiệp hóa và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, nhiều địa phương đã xem nhẹ chất lượng đô thị, dùng mọi biện pháp kinh tế để tăng quy mô dân số đô thị, không coi trọng đến công nghiệp hóa và phát triển kinh tế. Điều tất yếu sẽ dẫn đến kiểu “đô thị hóa giả tạo”.

Việc phân loại, nâng cấp, hạ cấp, điều chỉnh địa giới hành chính đô thị vừa qua đã không dựa vào bản chất của đô thị là tỉ lệ phi nông nghiệp và các yếu tố cấu thành. Căn cứ các tiêu chí phân loại đô thị, nhiều địa phương đã tập trung đầu tư xây dựng đô thị cốt để đảm bảo các tiêu chuẩn đô thị về mặt số lượng, để nâng loại, nâng cấp nhưng không chú ý đến chất lượng. Điều này dẫn đến quá trình phát triển đô thị theo kiểu “quang cảnh”, cố tăng quy mô dân số và diện tích đất xây dựng đô thị.

Thế kỷ 20 là thế kỷ đô thị, thế kỷ mà nhân loại đang kế thừa những thành tựu to lớn về kiến trúc, phát triển đô thị của các thế kỷ trước. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và phát triển bền vững đô thị VN phải được Nhà nước xếp là một nhiệm vụ quan tâm nhất, để chỉ đạo áp dụng hiệu quả các đối sách chiến lược.

VIỆT HÙNG ghi

top(1)

Đô thị hóa phá môi trường

Ai đã từng đi qua Quảng Nam – Đà Nẵng trước đây dọc theo ven biển từ bán đảo Sơn Trà đến Cửa Đại đến Hội An – Quảng Nam là một bãi cát ven biển hình vòng cung trên bờ biển là những hang phi lao chạy dài xanh mát che phủ ánh nắng chói chang trên cát, nhưng ngày nay với mức độ đô thị hóa cấp tốc thậm chí nhà đầu tư xí phần bỏ đất hoang đến nay với mục đích sang tay kiếm lời nên dọc trục đường Sơn Trà – Cửa Đại những địa điểm đất xí phần người ta dùng tôn che chắn theo chiều dài bờ biển để giữ phần đất trống xí phần bỏ hoang. Người dân bao đời sống trên mảnh đất gần các khu vực cấm đó không có đường ra biển, còn những nơi đã xây dựng khách sạn nhà hàng người dân muốn ra biển để mưu sinh với nghề cũng không dể những dãy phi lao bị đốn hạ nay trở thành hoang mạc đất thì bỏ không.

Còn Đà Nẵng hiện chưa đạt 1 triệu dân nhưng đi vòng quanh ĐN từ đông sang tây từ nam đến bắc trong khu vực TP Đà Nẵng thì thấy đất giải tỏa nằm phơi nắng cỏ mọc um tùm. Bờ biển cũng đã bị các công trình resort vây hết suốt chiều dài đường vào Hội An. Với đà này thì kết hợp với biến đổi khí hậu mà các tổ chức môi trường thế giới cảnh báo trong đó có Việt Nam bị ảnh hưởng nặng thì không biết điều gì sẽ xảy ra. Việc lấp biển như ở biển THANH BÌNH – ĐÀ NẴNG là một ví dụ cụ thể nhất.
Trần Đình Dũng

This entry was posted in Xã hội học và các vấn đề xã hội, Đô thị học. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s