Feeds:
Posts
Comments

THỨ HAI, 30 THÁNG 4 2012 20:55 TUỔI TRẺ
Viết emailIn

“Con kênh xanh xanh”, đó không còn là mơ ước mà sắp thành hiện thực chỉ nay mai. Sau gần 20 năm cải tạo, kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè (TP.HCM) chuẩn bị khoác lại chiếc áo trong xanh như từng có. Chiếc áo xanh mà dòng kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè từng mặc chỉ cách đây chưa đầy hơn nửa thế kỷ. Khi đó hai bên bờ còn bát ngát những rặng dừa xen lẫn cây bình bát trái chín vàng.


Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè ngày nay
 (Ảnh: T.T.D.)

Hồi ức màu xanh

Gương mặt hằn những nếp nhăn ngang dọc, ông Nguyễn A (ở 64/2 Hoàng Sa, P.5, Q.Tân Bình) nhìn về dòng kênh nước đen hồi tưởng lại những niềm vui nho nhỏ mà thời thơ ấu của ông lớn lên cùng dòng Nhiêu Lộc – Thị Nghè 50 năm về trước. Hồi đó, con kênh còn được người Sài Gòn gọi là kênh Trương Minh Giảng vì nó băng qua cây cầu cùng tên.

“Nước kênh trong xanh, có thể thấy nhiều loại cá lóc, cá rô, tôm đất bơi thành bầy. Bọn trẻ con cầu Sạn chúng tôi hay thả câu cá rô, vớt tôm dưới kênh đưa về cho mẹ kho mặn để ăn với rau muống luộc hái dưới kênh” – ông Nguyễn A chặc lưỡi. Thời đó, gia đình nào cũng đông con, “Bọn trẻ chúng tôi làm đủ thứ nghề, lúc thì bưng thau đi bán vài con cá lóc, khi chở vài mớ rau muống ra chợ bán, tất cả đều câu, hái từ dòng kênh này” – ông Nguyễn A nhớ lại.

Nhờ sự góp sức của người dân

Để có được dòng kênh trong xanh, trong suốt năm năm qua hàng triệu người dân TP đi lại vất vả và hàng chục nghìn hộ dân buôn bán ế ẩm vì “lô cốt” ở các công trình đào đường lắp đặt cống thoát nước.

“Khó khăn đã qua và sắp tới hàng triệu người sẽ được hưởng lợi vì đường phố không còn ngập nước, tuyến kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè sẽ đẹp hơn là nhờ sự hi sinh, góp sức của rất nhiều người dân TP” – ông Phan Châu Thuận chia sẻ.

Cũng câu chuyện 50 năm về trước, bà Long Giang (ở 40/50 Trường Sa, Q.3) nói: “Lúc đó dưới chân cầu Trương Minh Giảng người dân trồng rau muống nước nhiều lắm. Từ cầu nhìn xuống có thể bắt gặp những cô gái chèo ghe qua lại trên mặt kênh trồng và hái rau muống. Nước kênh sạch nên rau muống trồng ở kênh nổi tiếng là ngọn to, dài cọng, người dân gọi là rau muống ngọn đua. Ăn rất giòn và thơm”. Còn bà Trần Thị Ngân (ở 220/164/4 Trường Sa, Q.3) kể: “Đêm đến, ghe, đò chèo qua lại thắp đèn dầu giăng lưới bắt cá, tôm cả đêm”.

Những ngày này, chiều chiều hai cụ Nguyễn Văn Long và Nguyễn Thị Thê lại dìu nhau tập thể dục trên đường Trường Sa. Cụ Long luôn miệng kể: “Năm 1945, tôi về đây ở với hai bàn tay trắng lập nghiệp bằng nghề lơ xe. Chiều về đến kênh tôi nhảy cái ùm, bơi qua bơi lại gột rửa hết bụi bặm trên người mới về nhà. Đến những năm 1967, 1968 do chiến tranh nên dân tứ xứ ùn ùn kéo nhau về đây dựng nhà dọc hai bờ kênh, kéo dài từ khu Lăng Cha Cả đến địa giới Thị Nghè (Bình Thạnh). Đa số là dân nghèo nên nhà chỉ dựng tạm bợ bằng cây, mái lợp lá. Vài năm sau, dòng kênh bị ô nhiễm, nước đen và bốc mùi hôi”.

Tôm cá sớm trở lại

Bây giờ đi trên hai tuyến đường Trường Sa và Hoàng Sa dọc hai bờ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, mọi người đều cảm nhận dòng kênh đang dần thay đổi từng ngày. Đoạn đường ven kênh từ Út Tịch (Q.Tân Bình) đến cầu Lê Văn Sỹ (Q.3) đã được trải nhựa và mở rộng lên 9m cho dòng xe lưu thông thông thoáng. Hai bên đường là những căn nhà cao tầng thay cho những căn nhà lụp xụp năm xưa.


Nhà lụp xụp bên bờ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè năm 1993
 (Ảnh: Nguyễn Công Thành)

Cảnh quan kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè đang đẹp hơn vì vỉa hè sát bờ kênh đã trồng những hàng cây xanh, thảm cỏ, những cây hoa tầng thấp, tầng cao, có chỗ được tạo nên những ngọn đồi nho nhỏ và đặt đá cảnh.

Ông Ngô Bá An – phó giám đốc Khu Quản lý giao thông đô thị số 1 – cho biết sắp tới sẽ trồng cây bàng vuông, cây phong ba được đem từ đảo Trường Sa về để người dân TP luôn nhớ đến Hoàng Sa, Trường Sa – mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc ở biển Đông. Những cây gỗ bắc qua hai bờ kênh ngày xưa nay thay thế bằng chín chiếc cầu bêtông nối đôi bờ kênh. Mỗi chiếc cầu đều xây dựng bồn trồng những giàn hoa màu hồng, màu đỏ. Đêm đêm, dưới ánh sáng lung linh của những ngọn đèn đường, trên những vỉa hè lát gạch con sâu, nhiều nhóm trẻ sẽ có không gian cùng nhau chơi đùa.

Đi trên đường Trường Sa và Hoàng Sa đoạn từ cầu Lê Văn Sỹ đến cuối con kênh đổ ra sông Sài Gòn, phía đường Nguyễn Hữu Cảnh (Q.Bình Thạnh) nơi đang là công trường mở rộng đường ven kênh giai đoạn 2, những chiếc máy trộn bêtông đang hoạt động hết công suất, hàng trăm công nhân luôn tay đổ những mẻ bêtông làm đẹp vỉa hè nhằm đảm bảo tiến độ đến lễ Quốc khánh 2/9/2012 hoàn thành.

Trên dòng kênh, hàng chục chiếc sà lan, xáng cạp đang múc những mẻ bùn đất. Anh Nguyễn Quang Hải, một người thợ vét bùn, cho biết: “Hai năm nay chúng tôi đã chuyển đi hàng ngàn chuyến sà lan bùn ở lòng kênh này. Sắp tới nước từ sông Sài Gòn được dẫn vào kênh để rửa ô nhiễm, hi vọng dòng kênh sẽ trong xanh trở lại và có cá tôm như ngày xưa”.

Gần 20 năm xây dựng

Là một trong những người đầu tiên bắt tay thực hiện dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, ông Phan Châu Thuận, giám đốc Ban quản lý dự án vệ sinh môi trường TP.HCM, cho biết giai đoạn 1993-2000 TP đã quyết tâm thực hiện chương trình đầu tư cải tạo kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè với tổng vốn đầu tư 1.600 tỉ đồng, dù lúc đó ngân sách TP còn rất eo hẹp. Số tiền này dành để đền bù giải tỏa và tái định cư cho gần 7.000 hộ dân sống ven kênh, nạo vét khoảng 260.000m3 bùn đất, làm đường, lát vỉa hè, trồng cây xanh…

Tuy nhiên, để cải thiện cuộc sống của hơn 1,5 triệu người sống trong lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè, thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy phát triển kinh tế của TP, năm 1997 Thường vụ Bộ Chính trị đã chỉ đạo về chủ trương đầu tư cải tạo nâng cấp hệ thống thoát nước, thu gom nước thải cho tuyến kênh này. Năm 2003 dự án vệ sinh môi trường TP.HCM lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè khởi công với tổng vốn đầu tư 199,9 triệu USD, trong đó 166,3 triệu USD vay vốn từ Ngân hàng Thế giới với lãi suất 0%. Theo ông Thuận, dự án nạo vét hơn 1 triệu m3 bùn, lắp đặt hơn 70km cống lớn, xây dựng trạm bơm nước thải có công suất 64.000m3/giờ… sẽ giải quyết triệt để ngập nước ở bảy quận trung tâm TP.

Theo ông Phan Châu Thuận, đến cuối tháng 5/2012 toàn bộ cống thoát nước hai bên bờ kênh sẽ được đưa vào tuyến cống bao (có đường kính 3m) dài 8,9km về trạm bơm nước đặt gần cầu Văn Thánh 2 (Q.Bình Thạnh). Từ đây nước thải sẽ được trạm bơm pha loãng và bơm ra sông Sài Gòn. Kênh sẽ tiếp nhận nước sông Sài Gòn, nước mưa nên sẽ dần dần trong xanh như sông Sài Gòn và lúc đó sẽ có tôm, cá.

Theo ông Thuận, đến hôm nay dự án đã hoàn tất 98% khối lượng và đến cuối tháng 6/2012 dự án hoàn thành. Như vậy mùa mưa năm nay dự án bắt đầu phát huy hiệu quả chống ngập nước ở TP.

Ngọc Ẩn, Đức Thanh



THỨ SÁU, 23 THÁNG 3 2012 00:57 ASHUI.COM
Viết emailIn

Lập bản đồ là một công cụ xây dựng sự hiểu biết của cộng đồng về nơi họ sống và là một phương thức giúp cộng đồng đến gần với nhau, hiểu nhau và làm cùng nhau, để khám phá khả năng của họ trong việc xây dựng một cộng đồng tốt đẹp hơn.

Mục đích của việc lập bản đồ là tạo được sự học hỏi và hiểu biết giữa người dân trong chính bản thân cộng đồng và chia sẻ mối quan tâm chung giữa người dân trong cộng đồng với các cơ quan chuyên môn, chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn, đoàn thể và tổ chức xã hội.

Việc lập bản đồ cộng đồng cũng là một cơ hội giúp thu nhận kiến thức, kinh nghiệm giữa người dân và các cán bộ/quan chức/các nhà quy hoạch nhờ quá trình làm việc cùng nhau.

Phương pháp lập bản đồ (mapping) với sự tham gia của cộng đồng được sử dụng rộng rãi trong các chương trình hỗ trợ người nghèo tại các nước châu Á từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước như một công cụ giúp các bên liên quan xác định hiện trạng và lập kế hoạch nâng cấp, cải thiện điều kiện hạ tầng/nhà ở tại các khu dân cư nghèo trong đô thị [Xem thêm “Design by–with–for people”, bản tin của Mạng lưới kiến trúc sư cộng đồng châu Á, do Liên minh Quyền Nhà ở châu Á (ACHR) phát hành, 2010.] 


Sử dụng công cụ  bản đồ  để lập Quy hoạch với sự tham gia của cộng đồng tại Campuchia.

Tại Việt Nam, phương pháp lập bản đồ với sự  tham gia của cộng đồng được áp dụng trong một số dự án quy hoạch /cải tạo nhà ở trong các khu  khu tập thể cũ tại TP Việt Trì, Vinh, Hải  Dương và xác định hiện trạng các khu dân cư thu nhập thấp tại  các thành phố Trị, Tam Kỳ, Pleiku, Tân An… do Mạng lưới Quỹ cộng đồng quốc  gia trực thuộc Hiệp Hội các Đô thị Việt Nam khởi xướng.

 
Kiến trúc sư tình nguyện hỗ trợ cộng đồng tham gia Quy hoạch cải tạo khu tập thể cũ tại Hải Dương

CÁC CẤP ĐỘ LẬP BẢN ĐỒ

Chúng ta có thể  thể hiện mọi thứ  trên bản đồ, nhưng  nên bắt đầu từ mối quan tâm chung của các bên liên quan, đặc biệt là cộng đồng sở tại.

Việc lập bản đồ có thể thực hiện ở bất kỳ quy mô nào, bắt đầu từ cấp độ  hộ gia đình, khu dân cư, phường/xã, thành phố đến cấp độ địa lý/vùng.

Lập bản đồ có thể tập trung vào bất kỳ vấn đề nào: nhà ở, quyền sử dụng đất đai, lịch sử, các tài nguyên thiên nhiên, văn hóa của cộng đồng… nhưng nên tập trung vào các vấn đề “nóng” đang được các bên quan tâm và các nguồn tiềm năng (tài nguyên) để giải quyết những  vấn đề đó.

1. Cập độ địa lý/vùng: Việc lập bản  đồ sẽ thu thập thông tin về các đặc điểm địa lý, tài nguyên thiên  nhiên, sự phân bố dân cư….Khi bản đồ hoàn thành, ta có thể thấy được mối tương quan của các  mặt  khác nhau.

2. Cấp độ thành phố: Việc lập bản đồ sẽ thu thập thông tin về  vị trí các khu dân cư, việc kết nối từ cộng đồng đến các  hình thức giao thông….

Bản đồ này nhằm xác định và phân tích tất cả các vấn đề ở quy mô thành phố và để thấy được các thành phần khác nhau của một thành phố đặc biệt là các khu định cư không chính thức hoạt động với nhau như  thế nào. Bản đồ khảo sát ở quy mô thành phố cho thấy vị trí của những cộng đồng không chính thức với số hộ gia dình, lịch sử, các khó khăn, tình trạng sở hữu/sử dụng đất đai và giải pháp nhà ở cho mỗi cộng đồng.

 
Lập bản đồ hiện trạng các khu thu nhập thấp tại TP Tân An

3. Cấp độ cộng đồng: Việc lập bản đồ sẽ thu thập thông tin về hiện trạng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội…  tại khu phố /thôn, các vấn đề cơ bản cần được cải thiện và tính khả thi cho các ý tưởng của  người dân.

4. Cấp độ hộ gia đình: Việc lập bản đồ sẽ ghi lại cách mọi người sống chung trong một gia đình, nếp suy nghĩ, văn hóa, lối sống, kinh tế của hộ gia đình, mong muốn cải thiện/thay đổi của họ để cuộc sống tốt hơn.

5. Lập bản đồ theo vấn đề: Ngoài các hình thức kể  trên, quá trình lập bản đồ có  thể  tập trung vào các  vấn đề như: lược đồ về sinh kế của cộng đồng, lịch sử cộng đồng, vị trí các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa…

 

 
Lập bản đồ với sự tham gia của cộng đồng để xác định thiệt hại sau bão lũ tại TP Quy Nhơn  

CÔNG CỤ ĐỂ LẬP BẢN ĐỒ VỚI SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG

1. Thước: Nên sử dụng các vật liệu sẵn có  trong cộng đồng, ví dụ như: dùng dây thừng/ dây nilon làm thước dây…

2. Mẫu điều tra cơ bản: Gồm tóm tắt những thông tin không thể thể hiện được hết trên bản đồ, ví dụ như số hộ gia đình, số hộ bị ngập úng, thiếu nhà vệ sinh….

3. Bản đồ: Bản đồ nền được sử dụng như tài liệu tham khảo cơ bản về vị trí, ranh giới các địa phương, đường giao thông… Thông thường bản đồ hiện trạng do UBND các  phường/xã cung cấp (bản đồ nền địa chính tỷ lệ 1/500). Trong trường hợp khó tìm, có thể  tải bản đồ vệ tinh miễn phí từ  internet. Các bản đồ chi tiết như quy hoạch tổng thể thành phố,  bản đồ quy hoạch sử dụng đất…cũng có thể là nguồn tham khảo quan trọng.

4. Máy ảnh: Được sử dụng để ghi lại hình ảnh quá  trình lập bản đồ. Những hình ảnh nên được ghi lại bao  gồm: Những nơi có vấn đề (ví dụ như hạ tầng xuống cấp, nhà ở lụp xụp..), những địa điểm quan trọng, các nơi có tiềm năng, các yếu  tố tồn tại trong cộng đồng mà có thể  được sử dụng trong ý tưởng cho việc nâng cấp. Các hình ảnh được ghi lại có thể là chủ đề  cho các cuộc thảo luận lập kế hoạch cho thời gian kế tiếp.

5. Các văn phòng phẩm cần thiết: Giấy khổ Ao, giấy caro, băng keo, hồ dán, bìa màu, các  loại bút, chất dẻo dễ nặn…

THÀNH PHẦN THAM GIA LẬP BẢN ĐỒ

Vai trò của một nhà chuyên môn như kiến trúc sư là học hỏi những gì là giá trị trong truyền thống, văn hóa và trải nghiệm địa phương của người dân và tìm ra cách để làm nổi bật hơn những giá trị này.” – Cha Jorge Anzorena, người sáng lập Liên minh Quyền Nhà ở châu Á.

- Việc chọn một nhóm đại diện cộng đồng tham gia lập bản đồ có vai  trò  quyết định cho  kết quả của công việc này. Những người được chọn phải biết rõ về cộng đồng của mình, gồm cả nam lẫn nữ. Theo kinh nghiệm tại các địa phương đã tham gia  việc lập bản đồ với sự tham gia của cộng đồng, thì mỗi khu phố/thôn nên có 5-8 người sống lâu năm, am hiểu địa bàn tham gia.

- Vai trò của các tổ chức phát triển /cơ quan chức năng /chính quyền địa phương là tạo ra một không gian, cơ chế để hỗ  trợ các cộng đồng làm việc cùng nhau, đưa ra các câu hỏi gợi mở thay vì đưa ra các câu trả lời có sẵn.

- Người dân địa phương hiểu về địa phương của họ hơn những  người bên ngoài. Vai trò của các chuyên gia bên ngoài (với tư cách là đại diện cho cơ quan /tổ chức hỗ  trợ) là xây dựng sự tin tưởng của người dân, giúp họ lập kế hoạch và từng bước thực hiện kế hoạch đó.

CÁC BƯỚC THỰC HIỆN

  • Chuẩn bị bản đồ nền của thành phố/phường (xã)/khu dân cư dự định khảo sát và mẫu điều tra cơ bản.
  • Tổ chức các nhóm điều tra bao gồm: mỗi cộng đồng/khu vực cử 5-8 đại diện, họ chính là chủ nhân của tiến trình thực hiện.
  • Trình bày và chia sẻ thông tin tại mỗi cộng đồng, cùng thảo luận về lịch sử hình thành khu dân cư, số hộ, hiện trạng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, hiện trạng sử dụng đất đai, các vấn đề mà từng cộng đồng đang quan tâm/bức xúc.
  • Tập hợp các thông tin (hình ảnh, vị trí và tên các cộng đồng) vào bản đồ thành phố. Xác định và phân loại các vấn đề quan tâm và hiện trạng sử dụng đất của mỗi cộng đồng thể hiện bằng các màu sắc khác nhau trên bản đồ của thành phố.
  • Tóm tắt các thông tin vào một bảng số liệu chung của toàn thành phố và phân phát cho tất cả các cộng đồng.
  • Sau khi vẽ bản đồ, điều quan trọng là phải tổ chức được một cuộc thảo luận mở cho tất cả các bên và người dân để  bàn về các vấn đề mà người dân quan tâm và khả năng giải quyết các  vấn đề này.

KẾT QUẢ VÀ TÁC ĐỘNG

  • Kết quả của quá  trình vẽ bản đồ không chỉ  hình thành nên các dữ liệu/thông tin, mà còn tạo ra mạng lưới cộng đồng, giúp họ cùng nhau phân loại các  vấn đề khó khăn chung, đồng thời hình thành các nhóm có cùng mối quan tâm để lập kế hoạch hành động nhằm giải quyết các  vấn đề bức xúc của cộng đồng (ví dụ như nâng cấp hạ tầng, cải thiện nhà ở, di dời/tái định cư…)
  • Ban đại diện cộng đồng sẽ được hình thành ngay sau cuộc thảo luận mở, để tiếp tục điều hành các hoạt động kế tiếp của cộng đồng.
  • Thảo luận mở cùng là cơ hội để các đại diện cộng đồng giới thiệu về khu dân cư của mình với cộng đồng khác, học tập lẫn nhau và cùng chia sẻ các vấn đề chung, các tiềm năng cho phát triển.

Ví dụ về tiến trình lập bản đồ quy hoạch với sự tham gia của cộng đồng tại Lautoka-Fiji:


1. Bắt đầu bằng việc mà những người dân trong cộng đồng có thể làm cùng nhau: sửa lại đường mương thoát nước.


2. Người dân tại làng Veidogo lập bản đồ về khu dân cư của mình.


3. Người dân giới thiệu về khu dân cư của  mình thông qua bản đồ được lập


4. Một số bản đồ rất chi tiết/chính xác


5. Một số bản đồ khác có kích thuớc rất lớn.


6. Vẽ/đồ lại dựa trên bản đồ  vệ tinh Google để có những thông tin cụ thể, đặc  trưng hơn về khu vực.


7. Bản đồ được vẽ/ đồ lại (dựa trên bản đồ vệ tinh) cho thấy  lịch sử của khu dân cư


8. Bản đồ được vẽ đồ lại (dựa trên bản đồ vệ tinh) về ranh giới khu vực, vấn đề ngập lụt và  ý tưởng về hệ thống thoát nước mới.


9. Sử dụng xe bus để đại biểu tất cả các cộng đồng trong TP đi thăm thực địa lẫn nhau.


10. Cô Vacemaca từ Natabua Seaside giải thích về vấn đề thoát nước và đường sá của cộng đồng mình.


11. Mỗi cộng đồng lập kế hoạch cải thiện/nâng cấp khu dân cư của mình


12. Họ cũng lập bản đồ về nguồn tài nguyên nhân sự của cộng đồng


13. Lập một bản đồ thể hiện tất cả các khu dân cư (của thành phố)


14. Trình bày bản đồ này cho Sở địa chính, để họ giúp xác định phần đất nào ở gần mà mọi người có thể dùng cho việc tái định cư


15. Người dân cùng nhau quyết định việc phân chia các lô đất (tại khu tái định cư)


16. Hội thảo về quy hoạch và thiết kế nhà ở với mô hình bằng bìa.


17. Thảo luận về kế hoạch tài chính


18. Thảo luận về diện tích mỗi căn nhà


19. Thảo luận về vị trí các không gian công cộng


20. Thảo luận về các loại công trình công cộng mà người dân cần.


21. Một số  người đề nghị  nên có một không gian công cộng rộng lớn ở trung tâm.


22. Một số người khác đề nghị nên phân chia thành  nhiều không gian cộng cộng nhỏ  hơn và phân bố rải rác trong cộng đồng.


23. Tập hợp tất cả các ý tưởng và thể  hiện trên bản đồ.


24. Một bản đồ quy hoạch toàn  thành phố đã được hoàn thành.

Lê Thị Lệ Thủy (*)

(*) Lê Thị Lệ Thủy tốt nghiệp ngành Triết học và hiện là hội viên Hội Tâm lý Giáo dục TP HCM. Chị là chuyên gia về phát triển cộng đồng đô thị và nông thôn với 20 kinh nghiệm, đã tham gia các dự án cải thiện hạ tầng cơ bản tại các khu dân cư nghèo đô thị thông qua việc tổ chức các nhóm tự giúp, các nhóm Tiết kiệm – Tín dụng tự quản tại cộng đồng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực địa phương. Gần đây nhất, chị là chuyên gia tư vấn cho Mạng lưới  Quỹ Phát triển cộng đồng Quốc gia, trực  thuộc Hiệp hội các Đô thị Việt Nam trong việc xây dựng mạng lưới tiết kiệm tại cộng đồng và cải thiện tình trạng các khu dân cư thu nhập thấp. Trước đó, chị Thủy đã tham gia nhiều dự án đa dạng về nâng cấp đô thị, cải thiện vệ sinh môi trường trong cộng đồng nghèo, phát triển giáo dục, nghiên cứu về khả năng tiếp cận dịch vụ công của người nghèo,v.v… tại các tỉnh thuộc Nam Trung Bộ, TP. HCM và Đồng bằng sông Cửu Long.

(Bài đã được đăng trên Tạp chí Quy hoạch Đô thị số 09 – 2012)


CHỦ NHẬT, 25 THÁNG 3 2012 00:57 ASHUI.COM
Viết emailIn

Từ giữa thập niên 60, chính phủ Hoa Kỳ thông qua Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID đã hỗ trợ kỹ thuật cho phía miền Nam Việt Nam về quy hoạch đô thị. Kể từ thời gian này, rất nhiều các đồ án quy hoạch và nghiên cứu về đô thị quy mô và có chất lượng tại miền Nam được thực hiện.  Trong bài viết này, tôi giới thiệu sơ bộ cách tiếp cận của một số đồ án này mà không đi sâu về các đề xuất quy hoạch của từng đồ án – đây sẽ là chủ đề cho các bài giới thiệu sau. 


Bản đồ Sài Gòn và vùng phụ cận vào thập niên 60. 

Điển hình là hai đồ án quy hoạch do hai công ty rất có tên tuổi trên thế giới lúc đó thực hiện: Quy hoạch chung thành phố Sài Gòn do công ty Doxiadis Associates – Consultants on Development and Ekistics[i] (Hy Lạp) lập năm 1965 và Quy hoạch phát triển Thủ Thiêm do công ty Wurster, Bernardi and Emmons[ii] (Hoa Kỳ) chủ trì lập năm 1972 thực hiện. Bên cạnh đó, Frank Pavick và James Bogle lần lượt thực hiện những báo cáo chi tiết về hoạt động quy hoạch đô thị ở miền Nam và những vấn đề của thành phố Sài Gòn. Cũng tác giả Frank Pavich sau đó còn thực hiện Khảo sát sử dụng đất tại Vùng đô thị Sài Gòn cho Tổng Nha Kiến thiết và Thiết kế Đô thị[iii]. Những tài liệu này không chỉ cung cấp những thông tin hữu ích về một phần lịch sử phát triẻn của thành phố cũng như lĩnh vực quy hoạch tại miền Nam, chúng còn cung cấp một mô hình thực hiện quy hoạch hoàn chỉnh trong điều kiện kinh tế thị trường và dựa vào phân tích khoa học hơn là các yếu tố thị giác đơn thuần – những vấn đề mà ngành quy hoạch Việt Nam đương đại, vốn xuất thân kiến trúc và trong điều kiện kinh tế chỉ huy, đang rất bối rối.

Các đồ án quy hoạch nêu trên mặc dù nghiên cứu rất kỹ lưỡng không chỉ về kiến trúc, khí hậu, đất đai mà còn cả nhu cầu giao thông giữa các khu vực và kinh tế/tài chính. Các hồ sơ quy hoạch thường kết thúc với phần đưa ra giải pháp triển khai, tài chính dự án và cả đề xuất rất cụ thể về chính sách cũng như luôn kèm theo thiết kế chi tiết một dự án thí điểm.

Đà phát-triển trong quá khứ, từ thành-phố cổ, thường hướng theo phía Bắc dọc theo những giải phù sa cổ. Kế-hoạch phát-triển tương lai cũng sẽ theo đường hướng nầy, và bất cứ một kế-hoạch thực-tế nào nhắm hướng dẫn sự phát-triển Thủ đô Sàigon cũng phải nhận thức ro những yếu-tố nầy” – Đề xuất về hướng phát triển cho Sài Gòn trong Đồ án Quy hoạch bán đảo Thủ Thiêm năm 1972.


Nghiên cứu các hướng phát triển của Sài Gòn theo trình tự thời gian trong hồ sơ của Bogle (c).


Biểu đồ về giá đất cho phép theo tỷ lệ sử dụng đất và chi phí san nền trong hồ sơ của DA (a).


Dự báo năng lực tài chính địa phương cho đầu tư vào nhà ở giai đoạn 1965 – 2000 tại vùng Sài Gòn trong hồ sơ của Dioxiadis Associates (a). 

Những đồ án hoàn chỉnh và sâu sắc

Hồ sơ đồ sộ của Dioxiadis Associates (a) giống một nghiên cứu tổng thể quy mô về khí hậu, đất đai, địa hình – địa mạo, dân số, nhà ở và năng lực tài chính không chỉ của Sài Gòn mà cả miền Nam lúc đó hơn là một đồ án quy hoạch đơn thuần. Chương trình đồ sộ của Đồ án thể hiện qua 8 phần:

  • Phần I: Chương trình phát triển cho vùng đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn trong vòng 30 năm với liệt kê chi tiết nhu cầu phát triển và tài nguyên cần thiết để thỏa mãn nhu cầu này.
  • Phần II: Đề xuất tổ chức hành chính cần thiết đề triển khai chương trình trên bao gồm cơ chế hành chính của chính phủ, sự tham gia của các thể chế tư nhân, tổ chức và ngân hàng.
  • Phần III: Một dàn ý kế hoạch để hướng dẫn sự phát triển của vùng đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn trong đó có định hình nội dung của quy hoạch, của các nghiên cứu cần thiết thực hiện và cách thực hiện chúng, xác định những điều kiện cho phép triển khai thực hiện ngay lập tức tại một số khu vực trước khi quy hoạch được lập.
  • Phần IV: Nghiên cứu so sánh các loại hình nhà ở phù hợp với khí hậu Việt Nam.
  • Phần V: Nghiên cứu so sánh tính chất các loại đất đai trong vùng (khô ráo, bán ngập, cao, thấp, v.v…) và chi tiết về giá trị và loại hình phát triển phù hợp cho từng loại.
  • Phần VI: Mô tả chi tiết và đề xuất về các loại vật liệu địa phương và nhập khẩu cũng như nền công nghiệp vật liệu tại địa phương.
  • Phần VII: Mô tả về nguồn nhân lực trong nước để lập và thực hiện chương trình và đề xuất về đào tạo nhân lực (công nhân xây dựng, thợ mộc, nhân viên khảo sát, họa viên, kiến trúc, kỹ sư, các nhà quy hoạch, v.v…).
  • Phần VIII: Quy hoạch tổng thể một dự án thí điểm thử nghiệm cho khoảng 10,000 ngôi nhà phù hợp với môi trường Việt Nam. Đề xuất quy hoạch chi tiết cho một khu dân cư đầu tiên với khoảng 1000 căn nhà cho dự án trên. Dự án này sẽ giúp cung câp thông tin về các vấn đề nảy sinh trong quá trình triển khai chương trình phát triển này cũng như đào tạo nhân lực và đề trình bày những gì là khả thi.


Bản đồ minh họa quy hoạch Thủ Thiêm của WBE năm 1972 (b). 


Đề xuất về hệ thống giao thông vùng và kết nối hai bờ sông Sài Gòn trong đồ án Thủ Thiêm của WBE năm 1972 (b).

Đồ án Thủ Thiêm năm 1972 là một ví dụ khác. Khẳng định sự thất bại của đồ án quy hoạch trước (ví dụ: Đồ án Thủ Thiêm năm 1968) là do “dựa trên việc sưu tầm thiếu sót vào những đặc tính thể chất của địa điểm và vô số các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc phát triển”[iv], đồ án Thủ Thiêm năm 1972 bao gồm các phần Sưu-khảo (nghiên cứu) sau (a):

  • Thiết kế thể chất (quy hoạch vật thể): thu thập dự liệu về dân số và đặc điểm đất đai của vùng Sài Gòn (SMA). Xu hướng phát triển được so sánh với các yếu tố vật thể mà sẽ ảnh hướng việc phát triển SMA trong những thập niên tới.
  • Kỹ thuật: địa chất được nghiên cứu để tìm phương pháp san nền tốt nhất cho khu vực thấp và ngập nước. Hệ thống kênh rạch được khảo sát và các dòng kênh chính được vẽ mặt cắt để nghiên cứu.
  • Vận tải: nghiên cứu về lưu lượng giao thông cho hệ thống đường nội bộ của bán đảo[v]. Một phân tích về các giải pháp vượt sông Sài Gòn được chuẩn bị để đánh giá về phương pháp và chi phí.
  • Kinh tế: giá trị đất đai và sử dụng đất được dự báo cho thời gian 30 năm tới và những giả thuyết về khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển của bán đảo được đặt ra. Một phân tích phí tổn-lợi ích (cost-benefit analysis) cho từng phương pháp và một sơ đồ về dòng tiền (cash flow) đầu tư công cho bán đảo được thực hiện. Nguồn tài chính bên ngoài và năng lực của các thể chế tài chính địa phương được nghiên cứu.
  • Những yếu tố khác: những chính sách và luật lệ của chính quyền được đánh giá về tác động của chúng đối với phát triển đô thị.

Và như kết luận trong phần Sưu-khảo, những nghiên cứu này vượt khỏi phạm vi của bán đảo Thủ Thiêm và hữu ích đối với việc phát triển thành phố nói chung. Đồ án Thủ Thiêm năm 1972 thẳng thắn phê phán mô hình phát triển tuyến tính do Doxiadis đề xuất vì quá áp đặt và dồn lưu lượng giao thông theo tuyến vượt sông Sài Gòn xuyên bán đảo. Đồ án cũng phê phán mô hình đô thị vệ tinh[vi] vì đòi hỏi quá lớn vai trò của chính phủ trong hiện thực hóa quy hoạch. Đồ án đề xuất thành phố tiếp tục những gì thực tiễn đang phản ánh: phát triển dọc trục Đông-Bắc dọc theo mảng đất cao và ổn định.

Ba phần thú vị nhất của đồ án là những thảo luận về việc kết nối hai bờ sông Sài Gòn, phần về tài chính và phần đề xuất chính sách. Dựa trên những nghiên cứu về giao thông và giá trị đất đai, đồ án yêu cầu thành phố sớm hoàn thành tuyến đường vành đai về phía Nam để giảm lưu lượng giao thông xuyên qua trung tâm và kết nối vơi sân bay tương lai[vii], di dời Tân Cảng và Xưởng đóng tàu Hải Quân (Ba Son) để xây cầu thấp kết nối trực tiếp đại lộ Hàm Nghi và đường Nguyễn Bỉnh Khiêm sang Thủ Thiêm[viii]. Cuối cùng, trong nhiều chính sách được đề xuất, nổi bật là việc đề nghị đưa vào hệ thống thuế dựa vào giá trị bất động sản (assessment tax), mở rộng địa giới đô thị để bao gồm vùng nông thôn xung quanh và 20% đất ở triển khai bởi Cơ quan Phát triển Điền địa[ix] sẽ là nhà cho người thu nhập thấp thuê và trợ giá 50%.


Quang cảnh trên đường Tự Do, nay là đường Đồng Khởi, vào năm 1961. Ảnh tạp chí Life.


Chiến tranh xảy ra tại vùng nông thôn khiến dân số Sài Gòn tăng đột biến. Nhà ổ chuột ven kênh là kết quả của quá trình này khi lượng dân nhập cư từ nông thôn quá lớn. 

Những lực cản của quy hoạch

Các đồ án và nghiên cứu này tất nhiên không nhất thiết phản ánh chất lượng thực sự của công tác quy hoạch và nghiên cứu đô thị tại miền Nam lúc đó vốn vẫn bị ảnh hưởng của trường phái Beaux Arts do người Pháp để lại (b). Rất khó có thể đánh giá được mức độ tác động của các đồ án và nghiên cứu này vào hoạt động quy hoạch tại miền Nam. Điều kiện chiến tranh và ngân sách eo hẹp không cho phép triển khai những đồ án này. Ngoài ra, theo đánh giá của Seltz vào năm 1970, quá trình chuyển giao công nghệ không thực sự diễn ra do nhân lực chuyên môn yếu kém trong các cơ quan của chính phủ và nguồn tiền tài trợ dồi dào khiến tư vấn nước ngoài có khuynh hướng sử dụng nhân lực ngoại quốc hơn là địa phương (a). Các nghiên cứu và bài báo về hoạt động quy hoạch ở miền Nam cũng lột tả tương đối những vấn đề của đô thị và xã hội lúc đó. Rất nhiều những vấn đề nêu ra nay có thể quan sát thấy trong xã hội và hoạt động quy hoạch đương đại. Ví dụ, Michael Seltz (a), một nhà quy hoạch làm việc trong một nhóm cố vấn cho thị trường Sài Gòn rằng 3 yếu tố tác động tiêu cực đến quy hoạch (ngoài chiến tranh) là: 1) thiếu thông tin; 2) nạn tham nhũng khiến việc hợp tác đa ngành không thể diễn ra; 3) chính quyền địa phương yếu và không có vai trò độc lập với chính quyền trung ương; và 4) thiếu nguồn tài chính.

 


Bản đồ tổng hợp tính phù hợp của đất đai cho phát triển đô thị trong đồ án quy hoạch vùng Sài Gòn năm 1974 (e).


Phương án Lưỡng trục thiên Nam – một trong 3 phương án và là phương án giống quy hoạch hiện nay nhất trong đồ án quy hoạch vùng Sài Gòn năm 1974 (e). 

Bước đi dài và cuối cùng của quy hoạch tại miền Nam trước 1975?

Tuy nhiên, ở một mặt khác, tài liệu quy hoạch tổng thể cuối cùng cho Sài Gòn mà tôi có: Kế hoạch phát triển vật thể vùng thủ đô năm 1974 được ghi là thực hiện bởi Nha Thiết kế Thị thôn thuộc Bộ Công chánh và Giao thông là một đồ án rất khoa học và thể hiện sự tiếp thu các đồ án trước đó do người nước ngoài thực hiện. Mở đầu phần I: Phúc trình tiên khởi, bản kế hoạch này xác định:

Phúc-trình này sẽ diễn-tả lần lượt các nhu-cầu được ước-toán, khả năng cung-ứng của đất-đai và một số giải-pháp đề-nghị.

Đồ án ứng dụng phương pháp chồng lớp bản đồ bằng công nghệ thông tin để xác định sử dụng đất phù hợp và thậm chí cả mô hình giao thông cho mỗi khu vực trong toàn vùng đô thị Sài Gòn (bao gồm cả Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Nhơn Trạch) và đưa ra quy hoạch cấu trúc có tính định hướng. Trong chương 6: Kết-luận và Đề-nghị, phương pháp được tổng kết vắn tắt như sau:

… các khu vực đều được phân thành ô vuông, mỗi ô có diện tích 1 cây số vuông. Đặc-tính về đất-đai của mỗi ô đều được phân-tích và lượng-giá trên một họa-đồ, miêu-tả bằng các màu sắc đậm lợt ấn-định tùy theo mức độ khả-thi của khu vực. Tất cả các loại họa-đồ này được xếp chồng lên nhau để xác-định họa-đồ tổng-hợp các loại đất-đai khả-dụng. 
[…] Đặc-tính thiên-nhiên và nhân-tạo của mỗi ô vuông được ghi nhận bằng các mã-số và ký-hiệu, rồi sẽ tùy theo mật-độ quy-định tại mỗi ô vuông, máy tính điện-tử sẽ ước-toán ra số chi-phí thị-tứ-hóa cho mỗi khu-vực và cho toàn-thể giải-pháp. 
[…] Máy tính điện-tử cũng được xử-dụng để giải các mô-thức lưu-thông (một tập-hợp công-thức toán-học phức tạp) và ấn-định các ma-trận di-chuyển (interchange matrix) rồi từ đó suy ra sườn đạo-lộ. 

Những phương pháp trình bày ở đây: phân tích sử dụng đất bằng chồng lớp bản đồ (land use suitability analysis) và ấn định hành trình bằng ma trận (trip assignment) cho mỗi khu vực giao thông trong thành phố để từ đó suy ra lưu lượng vẫn là những phương pháp cơ bản được giảng dạy trong các trường quy hoạch tại Hoa Kỳ ngày hôm nay như tôi đang được học. Những phương pháp này tuy nhiên ít được biết tới trong giới quy hoạch đô thị và không được giảng dạy tại Việt Nam ngày hôm nay.

Nếu đây quả thực là một đồ án do người Việt Nam thực hiện, nỗ lực quy hoạch này xứng đáng được tôn vinh và ghi nhận trong lịch sử như là sự chuyển biến từ quy hoạch mang tính thiết kế kiến trúc sang một bộ môn khoa học tổng hợp về phát triển vùng lãnh thổ. Đáng tiếc là di sản này sau đó không được tiếp thu và chìm vào quên lãng sau 1975[x] để tới hôm nay thế hệ các nhà quy hoạch được đào tạo trong nhà trường Xã hội Chủ nghĩa khá bối rối trước nền kinh tế thị trường nơi mà quyết định thiết kế, xây dựng và sử dụng công trình và khu đô thị không còn thuộc độc quyền của nhà nước (và do đó kiến trúc không còn vai trò quan trọng trong quy hoạch như trước).

Quy hoạch sư Nguyễn Đỗ Dũng (Blog Đô thị)

Chú thích:

[i] Doxiadis Associates (DA) đứng đầu bởi kiến trúc sư người Hy Lạp Constantinos Doxiadis là một trong những công ty tư vấn quy hoạch đô thị có ảnh hưởng nhất thế giới vào thập niên 1960. Một trong những công trình quan trọng nhất được hiện thức hóa của DA là thủ đô Islamabad của Pakistan.
[ii] Wurster, Bernardi and Emmons (WBE) là công ty kiến trúc có trụ sở chính ở San Francisco (Hòa Kỳ). Công ty được lập ra bởi William Wilson Wurster, người sáng lập Trường Thiết kế Môi trường tại Đại học Californai – Berkely, và sau đó có sự tham gia của hai đối tác trẻ là Bernardi và Emmons. Donn Emmons là người chịu trách nhiệm về đồ án Thủ Thiêm 1972.
[iii] Thiết kế đô thị (urban design) mà chúng ta hiểu ngày nay là một lĩnh vực mới phát triển vào khoảng giữa thập niên 60 nhằm lấp khoảng trống giữa kiến trúc và quy hoạch. Trong trường hợp tên gọi của cơ quan này, cụm từ thiết kế đô thị chỉ quy hoạch đô thị và do đó được dịch ra tiếng Anh vào thời điểm đó trong các tài liệu của USAID là urban planning.
[iv] Bản dịch tiếng Việt của đồ án có nhiều lỗi (ngoài yếu tố ngôn ngữ tại miền Nam vào thời điểm đó), tuy nhiên để phản ánh không khí của đồ án, tôi trích nguyên văn và chú thích thêm để độc giả hiểu.
[v] Tôi chưa thấy đồ án quy hoạch chung nào ở Việt Nam ngày nay thực hiện nghiên cứu lưu lượng giao thông. Nếu quý vị nào biết xin thông tin.
[vi] Các quy hoạch chung ngày nay, từ Hà Nội tới Tp HCM vẫn theo đuổi mô hình này mà không đề cập tới những mặt trái của nó.
[vii] Tuyến đường này chính là đại lộ Nguyễn Văn Linh hôm nay và sân bay quốc tế Long Thành trong tương lai.
[viii] Riêng đề tài kết nối hai bên bờ sông Sài Gòn là một câu chuyện thú vị mà tôi sẽ kể vào một dịp khác.
[ix] Cơ quan triển khai dự án phía chính quyền.
[x] Giáo sư Trương Quang Thao và sau đó một số sinh viên cao học và nghiên cứu sinh của ông có nghiên cứu các đồ án này tại trường Đại học Kiến trúc TP HCM. Nhờ giáo sư Thao mà tôi cũng lần đầu tiên biết đến các tài liệu này vào năm 2009. Các tài liệu để viết bài này là tư liệu lưu trữ của các thư viện đại học tại Mỹ.



THỨ TƯ, 09 THÁNG 5 2012 00:04 TIA SÁNG
Viết emailIn

Quay ngược về tìm hiểu chính kiến trúc và cách sinh hoạt của người nông dân Việt Nam, nhiều khi chỉ cách đây vài thập kỉ, chúng ta nhận thấy ông cha mình đã áp dụng khái niệm “xanh” này một cách tuyệt vời.

Trong kiến trúc, ngôi nhà truyền thống Bắc Bộ là một giải pháp đặc sắc. Các vật liệu làm nên nó phần lớn được lấy từ những thứ cây trồng trong vườn, trong đó tre và xoan là hai vật liệu chính, được tận dụng một cách triệt để và khéo léo. Hãy thử phân tích một ngôi nhà ba gian, hay năm gian với các chi tiết kiến trúc đã được tận dụng từ cây xoan. Họ sẽ lựa ra những cây xoan to, đường kính khoảng từ 20cm đến 30 cm với những đoạn thẳng để làm cột. Sau khi lựa được khoảng hơn 3m làm cột, tất cả những đoạn còn lại đều được lựa làm xà, làm trụ, cành ngang thì làm hoành. Tóm lại, một cây xoan được ngả xuống và được tận dụng triệt để, không có gì vứt đi. Những cành quá nhỏ được dùng làm chất đốt, lá xoan nhấn xuống ruộng thành một loại phân xanh chống được sâu bệnh cho hoa màu. Những đoạn kẻ chuyền, kẻ chim, kèo bẩy với đường cong duyên dáng thì được lựa từ những khúc cong của thân cây. Một điều tuyệt vời nữa của lối nhà này là có thể dễ dàng tháo lắp để di chuyển cũng như được nối thêm khi có nhu cầu. Với một ngôi nhà xây, nếu bạn không thích nó hoặc muốn thay đổi, chỉ có cách là đập đi và thải ra một đống phế thải vào môi trường. Nhưng với ngôi nhà gỗ truyền thống, bạn có thể bán nó cho người khác tái sử dụng hoặc mang nó theo đến vùng đất mới. Và tài nguyên của thiên nhiên cũng như túi tiền của bạn được tiết kiệm triệt để.


Ngôi nhà của tác giả dựng ở Bắc Ninh

Vật liệu lợp mái bằng ngói vẩy cá cũng là một giải pháp điều hòa nhiệt độ tự nhiên. Những viên ngói mỏng to hơn bàn tay nung vừa độ chín và được lợp chồng lên nhau nhiều lớp dày cả gang, để lại những khe hở giữa các lượt. Khi đêm xuống, những viên ngói hút không khí ẩm vào. Ngày đến, nắng lên làm lượng ẩm trong ngói bay hơi. Gió tự nhiên lùa qua những khe ngói làm tăng sự bay hơi và nhà sẽ luôn mát. Kinh nghiệm cho thấy lợp loại ngói này chống bão khá tốt vì nó được cài vào nhau, viên trên đè viên dưới và vẫn có khe hở để gió đi qua và lực của gió không bị cưỡng lại mà chỉ bị chia nhỏ. Hàng hiên của căn nhà thường được làm xà xuống tránh bức xạ trực tiếp của ánh nắng. Đầu nhà thường xây bể chứa nước mưa hứng từ mái. Nước mưa dùng để ăn, pha trà. Còn tắm giặt thì dùng nước giếng.

Quan sát cách sinh hoạt của người nông dân trong ngôi nhà đó, cũng nhận thấy một vòng tròn khép kín của tự nhiên. Không có bất cứ cái gì bị cho là rác. Tất cả đều được tái sử dụng một cách hữu hiệu. Chẳng hạn, cây chuối cho quả, thân chuối cho lợn ăn, lá chuối dùng gói bánh, bẹ chuối làm dây buộc. Ngay cả hành động đơn giản nhất là vo gạo nấu cơm cũng rất triệt để: nước vo đầu tiên được đổ vào cái “vại nước gạo” dùng để nấu cho lợn; nước vo thứ hai dùng để tưới cho đám rau thơm trồng cạnh giếng. Nhà nào cũng có nồi nước giải ở góc vườn dùng để tưới rau. Tro bếp, phân lợn lại được quay ra đồng bón cho cây lúa.

Điểm lại một chút về cái ăn cái ở của người nông dân xưa để thấy đó quả là một quan niệm tốt cho kiến trúc xanh và ứng xử bền vững với môi trường.


Sân làm bằng đất nện 


Bức tường được xây bằng gạch không nung 

Ngôi nhà “nhặt nhạnh”

Cách đây khoảng 20 năm, có thể dễ dàng tìm thấy những ngôi nhà được xây bằng đất ở rất nhiều ngôi làng của Việt Nam. Thế nhưng, vật liệu xi măng và kĩ thuật làm nhà bằng bê tông ngày càng phát triển và lan dần từ thành phố về nông thôn. Vượt qua lí do về tính hữu dụng, người nông dân vội vàng, hồ hởi, đón nhận cái kĩ thuật mới này như một cách để minh chứng cho sự tiến bộ và hợp thời của mình. Mặc dù, thỉnh thoảng họ cũng than phiền về giá cả phải chi cho những ngôi nhà kiểu mới, sự bất tiện và tính kém hiệu quả của nó với cái thời tiết nóng và ẩm của xứ nhiệt đới.

Là một họa sỹ sinh ra ở thành phố nhưng quyết định rời về sống ở một làng quê làm nông nghiệp ở Bắc Ninh, tôi nhận thấy một điều là khá nhiều người dân ở đây trở nên mắc nợ khi họ cố gắng đập bỏ ngôi nhà cũ nhưng còn khá tốt mà họ đang ở để xây một ngôi nhà mới với hơi hướng thành thị. Ngôi nhà cũ hình như làm cho họ cảm thấy xấu hổ về thân phận của mình trong cái xu thế phát triển. Ngược lại, tôi đã quá chán các khối nhà bê tông và kính ở thành phố và đó là lí do tôi quyết định xây một ngôi nhà bằng vật liệu từ đất, giống như cha ông đã từng làm. Khi làm việc này, tôi cũng ngấm ngầm hy vọng có thể khiến những người hàng xóm nông dân nghĩ lại và họ không phá bỏ hay bán đi ngôi nhà cũ của mình nữa. Và biết đâu, điều này sẽ góp phần làm chậm lại sự xâm lấn của cái sa mạc bê tông vào nông thôn và bớt đi một chút khí thải lên bầu trời vốn đang đầy nghẹt khí thải.


Tuy mới được xây nhưng khung nhà được dựng lại từ khung nhà cũ. Chân cột và voi gốm được làm từ xưởng gốm của tác giả ở ngay trong làng.

Ngôi nhà của tôi đã hình thành giản đơn như vậy, bằng tất cả những nhặt nhạnh xung quanh ngôi làng nhỏ. Một cái ao được đào ở mặt tiền ngôi nhà để chứa nước và nuôi cá. Đất đào lên, trái với việc phải chở đi đổ, đã thừa đủ biến thành vật liệu làm ra những viên gạch không nung xây toàn bộ tường, hàng rào cho ngôi nhà. Một khung nhà cũ bằng gỗ được mua lại với giá rẻ của một nông dân trong làng khi ông ta muốn vứt nó đi để xây một ngôi nhà bằng bê tông. Một vài người thợ xây, thợ mộc trong làng được thuê để xây dựng ngôi nhà bằng những kĩ thuật cổ truyền mà họ còn nhớ được. Tất nhiên cũng chả khó khăn gì khi thiết kế cho ngôi nhà đó đầy đủ phòng tắm, nhà vệ sinh với tiêu chuẩn tiện lợi. Ngôi nhà được hoàn thành sau hơn hai tháng với con số tài chính khá kinh ngạc: Khoảng 350 triệu cho 200m2 nhà ở với hai buồng ngủ, một phòng khách và một bếp ăn khá rộng rãi. Chi phí đó còn đủ cho 400m2 vườn và cái ao nhỏ [Thời giá cách đây 3 năm].

Ngoài việc có những giây phút thú vị khi sống trong ngôi nhà đó, tôi còn có niềm vui được thấy vài người dân sau khi sang tham quan nhà tôi đã quyết định sửa chữa nâng cấp ngôi nhà cũ mình đang ở chứ không phá bỏ nó đi. Người hàng xóm bán cho tôi cái khung nhà cũ đến nhà tôi chơi luôn và lần nào cũng ngắm cái khung nhà cũ của mình một cách tiếc muối. Ông nói rằng giấc ngủ của ông trong ngôi nhà mới không hề ngon. Ngôi nhà như thiếu cái gì đó, mặc dù ông đã chi khá nhiều tiền để có một ngôi nhà giống những ngôi nhà trên phố.


Ao nhỏ bên ngoài nhà giúp điều hòa không khí. 

Họa sỹ Bùi Hoài Mai


THỨ BA, 08 THÁNG 5 2012 11:00 ASHUI.COM

Viết emailIn

Với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đang diễn ra từng ngày, đô thị ngày càng trở nên ngột ngạt hơn. Do đó, những không gian mở với cây cỏ – từ những mảng xanh nhỏ đến những công viên cây xanh lớn hoặc những khu vực tự nhiên – chính là những nơi mà người dân có thể được thư giãn và tận hưởng không khí trong lành giữa lòng thành phố nhộn nhịp xô bồ. Có ba cuộc nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra những tác dụng tích cực chưa được biết đến của việc được sống gần thiên nhiên hoặc những không gian xanh như thế đối với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là trẻ em.

Không gian xanh giúp thu hẹp khoảng cách về sức khỏe giữa người giàu và người nghèo

Một nghiên cứu hợp tác giữa trường Đại học Glasgow và trường Đại học St. Andrews khám phá ra rằng những người dân có điều kiện sống gần công viên cây xanh hoặc những mảng rừng tự nhiên thì có sức khỏe tốt hơn những người không có điều kiện này, bất chấp địa vị xã hội của họ.

Sau khi tìm hiểu những dữ liệu về tỉ lệ tử của người dân Anh từ năm 2001 đến năm 2005 và liên hệ những dữ liệu này với nguyên nhân tử vong và mảng xanh đô thị, các nhà nghiên cứu nhận thấy khoảng cách về mặt sức khỏe giữa người giàu và người nghèo đạt giá trị thấp nhất ở những khu vực có nhiều mảng xanh, chỉ bằng một nửa so với khoảng cách sức khỏe giữa người dân ở những khu vực ít cây xanh nhất. Đáng chú ý hơn, trong một khu dân cư, sự xuất hiện của các mảng xanh cũng có tác dụng gia giảm nguy cơ mắc bệnh hiểm nghèo ở người dân.

Các hoạt động thể dục thể thao – hoặc chỉ đơn giản là đi bộ – trong công viên cây xanh có tác dụng điều hòa huyết áp cũng như giảm stress” – Tiến sĩ Richard Mitchell từ Đại học Glasgow phát biểu – “Không phải người dân nào cũng có điều kiện tiếp cận các mảng xanh đô thị. Nhưng nếu có, họ sẽ chắc chắn tận dụng, bất chấp họ thuộc giai tầng nào trong xã hội. Điều này có tác dụng tích cực lên sức khỏe của họ.

Cũng theo tiến sĩ Mitchell, tài nguyên đô thị cần phải được sử dụng nhằm mục đích thu hẹp bất công xã hội giữa người giàu và người nghèo, từ đó cải thiện điều kiện sống của người dân: “Chúng tôi khuyến khích các chính quyền xem xét cẩn thận việc ban hành các chính sách liên quan đến mảng xanh đô thị, đồng thời tiếp nhận kết quả của cuộc nghiên cứu này để phục vụ cho công tác quy hoạch các khu dân cư trong tương lai.

Báo cáo của nhóm nghiên cứu được đăng tải trên The Lancet – một tạp chí y học có uy tín hàng đầu thế giới. Trong đó, nhóm nghiên cứu khẳng định ý nghĩa công trình khoa học của mình rằng “Một môi trường sống mang lại sức khỏe tốt cho người dân chính là nhân tố tối quan trọng trong cuộc chiến chống lại bất công xã hội về sức khỏe cộng đồng.”

Không gian xanh giúp giảm tỉ lệ mắc bệnh suyễn ở trẻ em 

Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi trường Đại học Columbia và được đăng trên Tạp chí Dịch tễ học và Sức khỏe cộng đồng đã cho thấy, nếu trồng thêm 343 cây xanh trên mỗi mét vuông đất của thành phố New York, tỉ lệ mắc bệnh suyễn ở trẻ em từ 4 đến 5 tuổi nơi đây sẽ giảm được 25%.

Cũng theo nhóm nghiên cứu, mối liên hệ này vẫn đúng trong trường hợp tính toán thêm tác động của các nguồn gây ô nhiễm, mức sống và mật độ dân số. Mặc dù chưa giải thích được mối liên hệ này một cách cụ thể, song các nhà nghiên cứu cho rằng nguyên nhân có thể là do mảng xanh góp phần làm sạch không khí, khuyến khích trẻ nhỏ năng chơi đùa ngoài trời thay vì chỉ ở trong nhà.

Không gian xanh giúp làm giảm tỉ lệ trẻ em béo phì

Bên cạnh khẩu hiệu “xanh và sạch” quen thuộc trong thời đại ngày nay, một nghiên cứu y học khác vừa đưa ra một kết luận không kém phần thú vị: “xanh và thanh mảnh”. Nghiên cứu của Khoa Y Dược trường Đại học Indiana cho thấy, trẻ em sống trong những khu dân cư nhiều cây xanh thì có nguy cơ bị béo phì thấp hơn so với những trẻ khác.

Được công bố trên Tạp chí Y học dự phòng Hoa Kỳ, công trình nghiên cứu này khảo sát trẻ em từ 3 đến 18 tuổi sống trong cùng một khu dân cư trong khoảng thời gian tối thiểu là 2 năm liên tiếp. Kết quả cho thấy tỉ lệ cây xanh trong khu ở càng cao, thì chỉ số khối cơ thể (BMI – chỉ số dùng để xác định độ béo phì của cơ thể) của trẻ em sống ở đó tăng càng chậm, bất kể tuổi tác, chủng tộc và giới tính của đối tượng khảo sát.

Theo nhóm nghiên cứu, chỉ số BMI bị hạn chế đồng nghĩa với việc giảm nguy cơ béo phì về lâu dài. Trẻ em béo phì cũng thường có xu hướng béo phì lúc trưởng thành, và béo phì gắn liền với hàng loạt nguy cơ về sức khỏe, bao gồm bệnh đái tháo đường, cao huyết áp, suyễn và nguy cơ ngừng thở khi ngủ.

Một lần nữa, mảng xanh phát huy tác dụng trong việc khuyến khích trẻ em năng động và chơi đùa ngoài trời, từ đó giảm nguy cơ béo phì do ít vận động. Bên cạnh đó, một khu ở có nhiều mảng xanh đồng nghĩa với không khí trong lành hơn, mát mẻ hơn vào mùa nóng và có khả năng hấp dẫn người dân sinh hoạt ngoài trời nhiều hơn.

Ngay từ những công trình nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã chứng minh được rằng trong những thành phố mật độ cao, mảng xanh khu ở càng nhiều thì nguy cơ béo phì ở trẻ em càng giảm. Công trình mới nhất của chúng tôi được thực hiện trên quy mô khảo sát 3800 trẻ em sống trong các khu nội thị đã cho thấy việc sống trong những khu ở xanh có tác động tích cực mang tính dài hạn đối với cân nặng cũng như sức khỏe của trẻ em những nơi đó.” – phát biểu của Gilbert C. Liu, giáo sư nhi khoa kiêm trưởng nhóm nghiên cứu.

Kết luận

Mặc dù các nhà quy hoạch không phải là bác sĩ, nhưng thông qua công tác quy hoạch đô thị, chúng ta gián tiếp tác động tích cực hoặc tiêu cực lên sức khỏe người dân. Qua các cuộc nghiên cứu trên, có thể thấy việc quy hoạch và ban hành các quy định, chính sách khuyến khích những khu ở xanh, tăng cường mảng xanh đô thị là công tác thiết thực không chỉ có ý nghĩa về mặt không gian và lợi ích hiện tại, mà còn có tác dụng cải thiện chất lượng cuộc sống về lâu dài, góp phần vào công bằng xã hội giữa người giàu và người nghèo trên lĩnh vực sức khỏe cộng đồng.

KTS Phan Nguyễn Khánh Đan (dịch và tổng hợp từ Natural News)


SGTT.VN – Sau hơn 37 năm tiến hành đô thị hoá và công nghiệp hoá, dẫu còn nhiều vấn nạn đang diễn ra như: tắc nghẽn giao thông, ngập lụt đô thị, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội… nhưng cũng phải nhìn nhận rằng chúng ta đang đi đúng lộ trình và quy luật mà các nước phát triển đã trải qua.

Trước năm 1990, cả đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế – xã hội, 15 năm (1975 – 1990) phải chống chiến tranh biên giới phía Bắc, Tây Nam, đối phó với lệnh cấm vận vô lý của các thế lực, kể cả những sai lầm của chúng ta gây ra trong chính sách kinh tế đã làm cho đất nước kiệt quệ. TP.HCM ở ngay cửa ngõ vựa lúa lớn nhất cả nước, vậy mà hàng năm phải nhập khẩu 800.000 tấn lương thực cứu đói. Đây là thời kỳ mà các nhà đô thị học gọi là “phát triển âm” của các đô thị Việt Nam.

Từ sau năm 1986, công cuộc đổi mới đã thổi một luồng sinh khí mạnh mẽ vào các đô thị Việt Nam, tuy nhiên, sự đổi mới chỉ diễn ra mạnh mẽ ở TP.HCM từ sau năm 1990.

Đổi thay hạ tầng kỹ thuật và không gian đô thị

 

Đổi thay hạ tầng kỹ thuật và không gian đô thị của Sài Gòn – TP.HCM là đổi thay ngoạn mục nhất. Ảnh: Trần Việt Đức

 

Đây là sự thay đổi ngoạn mục nhất. Cho đến nay về cơ bản thành phố đã hoàn thành việc nâng cấp, chỉnh trang các quận nội thành. Ở khu vực trung tâm của thành phố có một sự thay đổi đến chóng mặt, hơn 100 toà cao ốc từ 30 tầng trở lên được nén chặt trong một diện tích chỉ có 930ha. Các khu nhà ổ chuột ở TP.HCM như nhà ven kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Tân Hoá – Lò Gốm dần nhường chỗ cho những khu nhà cao tầng, khu tái định cư khang trang hơn. Mỗi lần đến các khu phố mới của Phú Mỹ Hưng ở khu vực Nam Sài Gòn, người ta không chỉ ngạc nhiên về cảnh quan môi trường lý tưởng ở đây, mà còn về cả một hệ thống dịch vụ đa chức năng hoàn hảo như: trường học, bệnh viện, siêu thị, ngân hàng, công viên, khu vui chơi giải trí.

TP.HCM đang mở rộng ra bên ngoài không chỉ về không gian, mà còn về quản lý đô thị và liên kết phát triển để hình thành vùng đô thị lớn của cả nước, cũng là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Thành phố này trở thành một trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước và là nơi đóng góp nhiều nhất (47%) cho GDP của cả nước, cũng như cho ngân sách quốc gia. 16 khu chế xuất và khu công nghiệp ở TP.HCM đã đóng góp rất lớn cho tiến trình công nghiệp hoá không chỉ cho thành phố, mà còn cho khu vực kinh tế phía Nam. Mặc dù bị khủng hoảng kinh tế, nhưng hình hài của Thủ Thiêm – một khu đô thị mới hiện đại tiêu biểu cho TP.HCM vào cuối thế kỷ 21 đang dần lộ diện. Đó sẽ là một trung tâm tài chính, triển lãm và giao lưu quốc tế.

Một loạt các công trình lớn xuất hiện không chỉ giải quyết vấn đề giao thông, mà còn là kích hoạt phát triển kinh tế – xã hội liên vùng như: đại lộ Võ Văn Kiệt, hầm Thủ Thiêm, cầu Rạch Chiếc, cầu Phú Mỹ và việc kết nối các đường vành đai lại làm cho TP.HCM và các tỉnh/thành lân cận như: Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An trở thành một không gian kinh tế – xã hội liên thông.

Đổi thay văn minh đô thị và lối sống công nghiệp

Thước đo sự phát triển của một thành phố không phải chỉ bó hẹp trong nhà cao tầng, đường cao tốc, cầu vượt, mà còn được phản ánh trong đời sống và lối sống của thị dân. Sau 20 năm đổi mới, chính công nghiệp hoá đã làm thay đổi trong nhịp độ sống. Mọi người có tốc độ di chuyển nhanh, cường độ làm việc mạnh mẽ và một nhịp sống khẩn trương. Điều này không chỉ diễn ra trong hành động, mà còn trong tư duy. Người dân đô thị đã làm quen với một nhà nước pháp quyền biết thượng tôn pháp luật, biết tôn trọng các quy tắc sống đô thị, nhờ đó mà thành phố có ngăn nắp, trật tự kỷ cương, trong con mắt của bạn bè quốc tế.

Thế hệ trẻ là lớp người rất năng động, biết kiếm tiền, ăn mặc thời trang, sử dụng máy tính và ngoại ngữ thành thạo. Nhiều cách sống mới của đô thị quốc tế được người Sài Gòn tiếp nhận nhanh chóng, hình thành nên các thói quen mới như: sống ở chung cư, mua sắm trong siêu thị, sử dụng thẻ tín dụng, tiếp nhận thông tin qua mạng… Vào buổi tối, các trung tâm ngoại ngữ, trung tâm tin học đông nghẹt người học; thứ bảy, chủ nhật mọi người toả về các nhà nghỉ, các resort, bãi biển, các khu vui chơi ở ngoại thành… để tận hưởng thời gian nhàn rỗi sau một tuần làm việc cật lực. Đó chính là những nét sống mới của lối sống đô thị văn minh.

Cùng với sự thay đổi của hệ thống đô thị là sự đổi thay trong đời sống kinh tế của các hộ gia đình, của mỗi cá nhân sống trong thành phố. Máy vi tính xách tay, điện thoại di động, máy ảnh kỹ thuật số, công nghệ digital trở nên phổ biến trong đời sống thường ngày của người dân thành phố. Chất lượng sống đô thị đã bắt đầu thay đổi từ chiều rộng sang chiều sâu. Nếu cách nay mười năm, khi gặp nhau, mọi người thường hỏi về xe máy, tủ lạnh, tivi, thì nay mọi người bắt đầu hỏi thăm nhau kỳ nghỉ lễ này sẽ đi đâu, dịp hè này sẽ đi du lịch nước nào. Hàng năm có hàng trăm ngàn người đi du lịch trong nước và việc đi du lịch nước ngoài không còn xa lạ với người dân đô thị.

Đổi thay văn hoá

Một trong số các lo lắng của các quốc gia khi tiến hành đô thị hoá, công nghiệp hoá nhanh là sự suy giảm các giá trị văn hoá bản địa. Có thể nói sau hơn 20 năm đô thị hoá, những giá trị văn hoá truyền thống cơ bản của chúng ta vẫn giữ gìn được, mặc dù có không ít những nét văn hoá truyền thống đã bị mai một ít nhiều. Ở TP.HCM là nơi có sự đa dạng văn hoá – xã hội cao nhất. Mọi cư dân ở đây là từ các vùng miền khác nhau của đất nước, kể cả những người nước ngoài đến làm ăn, sinh sống ngày một đông hơn. Họ mang đến đây rất nhiều sự khác biệt về tôn giáo, dân tộc, phong tục tập quán, văn hoá, lối sống, tuy nhiên, những khác biệt này đều được mọi người tự nguyện tôn trọng và cùng nhau tồn tại một cách thân thiện, mà không có bất cứ sự can thiệp nào của luật pháp.

Một số kiểu sống phương Tây đã xuất hiện ở các thành phố lớn như chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, lối sống vô cảm, nhưng mới chỉ hạn chế trong một số người, nhất là nhóm trẻ và gặp phải sự phản kháng mạnh mẽ từ văn hoá truyền thống. Những giá trị truyền thống như: liên kết cộng đồng, kính trọng người già, đề cao gia đình… tuy có bị thách thức ở các đô thị, nhưng vẫn là những giá trị mà mọi người Việt Nam hướng đến. Những đợt quyên góp cho đồng bào bị thiên tai, cho quỹ xoá đói giảm nghèo… là những minh chứng hùng hồn cho sức sống mạnh mẽ của các giá trị văn hoá truyền thống ở đô thị lớn.

37 năm là một khoảng thời gian ngắn ngủi của lịch sử đất nước, nhưng lại là giai đoạn cực kỳ quan trọng, bởi vì, đây là giai đoạn kiến tạo nên nền tảng căn bản nhất cho đất nước hiện đại. Dẫu còn nhiều điều trăn trở, nhiều điều chưa hài lòng, nhưng chúng ta có quyền tự hào về 37 năm đã qua này.

PGS.TS NGUYỄN MINH HOÀ
(TRƯỞNG KHOA ĐÔ THỊ HỌC, ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM)


From Dũng đô thị on Tháng Năm 8, 2012 · Để lại phản hồi

Trung tâm thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn: Wikipedia.org

Kinh tế xuất hiện trong vấn đề quy hoạch vì 2 lý do:

1. Kinh tế là một trong các yếu tố đầu vào của quyết định quy hoạch thành phố hay một vùng rộng hơn. Nói cách khác, những vấn đề kinh tế cần được xem xét khi thực hiện quy hoạch do nó có những ảnh hưởng nhất định đến việc phân bổ sử dụng đất như thế nào là hợp lý, đến việc tính toán chi tiết là sẽ cần bao nhiêu sân bay, bao nhiêu cảng biển, hay bao nhiêu đất dành cho khu công nghiệp/nhà máy. Thiếu phân tích kinh tế sẽ dẫn đến khả năng phán đoán sai diện tích đất cần cho các hoạt động kinh tế khác nhau như sản xuất, văn phòng, hoặc đất ở. Chính quyền muốn quy hoạch thành phố sao cho có thêm nhiều nhà cho công nhân. Ý định là tốt nhưng nếu ta không tính xem trong tương lai sau khi bản quy hoạch ra đời thì số lượng nhà dành cho công nhân có trở nên dư thừa hay thiếu hụt thì sẽ rất tốn kém để điều chỉnh. Trước khi làm quy hoạch, các nhà chuyên môn sẽ phải đánh giá và phân tích những khuynh hướng kinh tế của thành phố và các vùng lân cận trong tương lại.  Họ sẽ phải cố gắng trả lời câu hỏi: nền kinh tế thành phố và các vùng lân cận phát triển những ngành gì khi việc xây dựng nhà giá rẻ cho công nhân hoàn thành, những ngành kinh tế này sẽ thuê mướn bao nhiêu công nhân, mức sống ra sao, và phân bổ của những nhà máy này trong tương lai sẽ thế nào. Trả lời cho những câu hỏi này đòi hòi nhà chuyên môn sẽ vượt ra khỏi khung phân tích giới hạn bởi các ranh giới hành chính giữa các thành phố, tỉnh, hay thậm chí quốc gia. Tại sao lai đến mức độ quốc gia? Lý do đơn giản hơn bạn (người đang đọc bài này) có thể nghĩ đến. Một khu vực giáp hoặc gần biên giới một nước khác thì có thể nhận ảnh hưởng từ những hoạt động diễn ra bên kia biên giới nhiều hơn là từ những gì tương tự diễn ra tại một tỉnh hay thành phố lân cận trong nội địa. Ví dụ như một số khu vực thuộc Lạng Sơn sẽ bị ảnh hưởng từ khu vực kinh tế thuộc Quảng Tây của Trung Quốc nhiều hơn so với tác động kinh tế của những vùng khác của Lạng Sơn hoặc Cao Bằng (trừ phi 2 quốc gia đóng cửa biên giới).

2. Kinh tế là một trong các yếu tố thuộc đầu ra của quyết định quy hoạch hay một bản quy hoạch. Nói cách khác, quy hoạch sẽ là thất bại, ít nhất là về mặt kinh tế, nếu nó không tận dụng hiệu quả tài nguyên tự nhiên và con người cho phát triển của xã hội. Tại sao kinh tế phải nhất thiết là một trong các yếu tố đầu ra? Liệu có thể hoàn toàn bỏ qua vấn đề phát triển kinh tế không? Câu trả lời là chúng ta hoàn toàn có thể bỏ qua. Thực tế là nhiều quy hoạch đã được thực hiện (planned) và triển khai mà không quan tâm chú trọng đến kết quả kinh tế của quy hoạch. Trở lại ví dụ về quy hoạch nhà giá rẻ cho công nhân, nếu đó chỉ là mục đích duy nhất, bạn sẽ thấy hàng loạt nhà giá rẻ mọc lên cạnh hoặc bên trong khu công nghiệp/nhà máy để công nhân có thể gặp nhiều thuận lợi trong việc di chuyển đi làm. Cái hậu quả về mặt kinh tế có thể là diện tích để mở rộng khu công nghiệp/nhà máy gặp cản trở và buộc việc quy hoạch sau này sẽ hướng đến chuyển đổi đất đang sử dụng cho những mục đích khác sang đất xây nhà máy. Nếu đất được lấy là đất bỏ hoang thì xem như quy hoạch ban đầu dành cho nhà ở của công nhân đem lại sự phát triển cho xã hội. Còn nếu đất được lấy không phải là đất bỏ hoang thì có nhiều khả năng xã hội bị thiệt thòi khi đất nông nghiệp màu mỡ bị lấy đi làm nhà máy (ở đây bạn tạm chấp nhận là chuyện này là thiệt thòi cho xã hội đi nhé, còn tại sao thì xin xem bài viết trong tương lai). Vậy tại sao lại phải quan tâm đến kết quả kinh tế của quy hoạch. Lý do chủ yếu ở đây nằm ở vai trò của kinh tế: tài nguyên như đất đai và của cải xã hội không phải vô tận, việc sử dụng chúng sao cho xã hội được lợi nhất (tức là đem lại phát triển) là trách nhiệm của người làm quy hoạch. Việc đem lại phát triển (chứ không phải tăng trưởng kinh tế) là một nội dung rộng và bao gồm yếu tố hiệu quả kinh tế.

Trong khi vấn đề kinh tế với tư cách là yếu tố đầu vào của quá trinh quy hoạch thì mang ít nhiều tính chất đặc tả (descriptive) tức là thực tế diễn ra cái gì thì chúng ta ghi nhận lại như vậy và phân tích nó. Kinh tế với tư cách là kết quả của quy hoạch lại mang rất nhiều tính chuẩn tắc (normative), tức là nhà chuyên môn ấn định rằng những giá trị nào đó của quy hoạch phải quan trọng hơn những giá trị khác đối với xã hội. Đại khái là việc chứng minh giá trị phát triển kinh tế của một bản quy hoạch có thể không khách quan mà tùy vào cá nhân nhà chuyên môn. Ví dụ, những người ủng hộ quy hoạch khu công nghiệp Dung Quốc và nhà máy lọc dầu ở đây cho rằng việc xuất hiện một khu công nghiệp ở khu vực miền Trung đem lại giá trị kinh tế cao hơn khi xét tới vai trò của khu vực miền Trung Việt Nam.  Những người không ủng hộ chứng minh điều ngược lại khi xét đến những yếu tố khác như phạm vi ảnh hưởng là toàn quốc.

Nguyễn Lưu Bảo Đoan

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.